Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

                                           

                                                             T H U    N G O

   KINH GUI OO :    . CHU TICH UY BAN THUONG VU QUOC HOI

                                    . CHANH AN TOA AN NHAN DAN TOI CAO 

                                    . THU LANH LUAT SU DOAN HAI MIEN NAM, BAC

                                       NUOC CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM

                 Ðề mục : v/v các tòa án của nước CHXHCHVN CHXHCHVN không có căn bản pháp lý để xét xử bất cứ một vụ tranh tụng nào dù là Hình, Hộ hay Hành chánh.                                            

                                                                                                                                         Minh Ðạo

Ðược biết những nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam, đặc biệt là các Luật sư Nguyễn xuân Ðài và Lê thị Công Nhân đã bị tòa Phúc Thẩm Hà Nội tuyên xử về tội‘Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN ’, tội phạm được dự liệu và trừng phạt bởi điều 88 bộ luật hình sự. Ong Nguyễn văn Ðàì: 4 năm tù giam , 4 năm quản chế; cô Lê thi Công Nhân 3 năm tù giam và 3 năm quản chế. Ngoài ra, vào tháng 10 tới đây, Tòa án Nhân dân Hà Nội và Hải  Phòng cũng sẽ mở phiên tòa xét xử 8 người khác, đang bị giam giữ về một tội danh tương tự. Trong số 6 nhân vật chống đối được đem ra xét xử ở Tòa án Nhân dân Hải - Phòng, chúng tôi được biết có ông Nguyễn xuân Nghĩa, một nhà báo từng đoạt giải thưởng Hellman / Hammet, một tổ chức nhân quyền. Những nhân vật còn lại đều là thành viên của khối 8406.

Hai vụ xử 8 nhân vật bị cáo về tội ‘ tuyên truyền chông nhà nước CHXHCNVN lẽ ra đã được xử vào ngày 24 tháng 9 năm 2009 nhưng vì trong số các bị cáo có một người ‘ốm’ nên tòa cho đình xử tại cả hai tòa Hà Nội v à Hải Phòng.

Bà Nguyễn thị Nga, vợ ông Nguyễn xuân Nghĩa xác nhận với Ban Việt Ngữ đài BBC hôm 24/9/09 rằng bà

cùng nhiều người khác đã ký vào bức thư khẩn gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và các vị nguyên thủ quốc gia có mặt trong cuộc họp ở LHQ vào tháng 9/2009, có đoạn viết:“ Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi ông Tổng Thư Ký LHQ và các vị Nguyên Thủ Quốc Gia thành viên, can thiệp trực tiếp với ông Nguyễn minh Triết yêu cầu Chính Phủ Việt Nam tuân theo các ký kết về nhân quyền, trả tự do cho thân nhân chúng tôi.

Tất cả thân nhân chúng tôi đều bị kết tội ‘ tuyên truyền chống lại chế độ ’theo điều 88 bộ luật hình sự chỉ vì họ lên tiếng kêu gọi bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo cho Việt Nam, đòi Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Thân nhân của họ không mắc vào tội danh như chính quyền đã buộc. Họ là những người yêu nước, tranh đấu ôn hòa cho lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

Ðây là những quyền được ghi trong Hiến Pháp Việt Nam và có giá trị toàn cầu vì đã được khẳng định trong các Công ước nhân quyền quốc tế.”

                                                                               x

                                                                            x     x

Nhân đọc bản Hiến Pháp của nước CHXHCNVN ban hành năm 1992, sửa đổi và bổ túc ngày 25 tháng 12 năm 2001, được công bố trên mạng, chúng tôi nhận thấy có một điều khoản khá kỳ cục, không giống bất kỳ bản Hiến Pháp của một quốc gia nào trên thế.giới, đó là điều 91 khoản 3.

Thật vậy, điều 91 khoản 3 bản Hiến Pháp tuyên bố như sau: “Nhiệm vụ giải thích Luật và Hiến Pháp thuộc về Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội . Qui định như vậy, rõ ràng điều 91 khoản 3 đã truất quyền giải thích luật của cơ quan Tư pháp hay của các tòa án. Vì tầm quan trọng của vấn đề, chúng tôi thấy cần nêu lên, trong bài viết này, những nghịch lý của điều 91 khoản 3, đồng thời xét xem điều khoản này đã ảnh hưởng đến nền tư pháp của nưóc CHXHCNVN như thế nào. Môt khi điều luật này truất quyền giải thích luật của tòa án thì sự kiện này sẽ đưa đến một hậu quả vô cùng nghiêm trọng: đó là toàn thể các tòa án ở VN đều vô thẩm quyền xét xử các vu tranh tụng dù là Hình, Hộ hay Hành Chánh, kể từ ngày bản Hiến Pháp được ban hành vào năm 1992 cho đến khi điều khoản này bị hủy bỏ, bởi lẽ, một khi bị truất quyền giải thích pháp luật, các tòa án sẽ không còn căn bản pháp lý để hành xử nhiệm vụ xử đoán của mình nữa.’

 

Bức thư ngỏ này sở dĩ được gửi tới quí vị là vì, chiếu theo Hiến Pháp, theo luật tổ chức các tòa án và các đoàn luật sư ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam thì cả 3 cơ cấu này đều có trách nhiệm hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp giải quyết việc hủy bỏ điều 91 khoản 3, nếu muốn các tòa án có căn bản pháp lý để hoạt động hợp pháp.

           (1) . Ðối với Chủ Tịch Quốc Hội đồng thời cũng là Chủ Tịch Ủy Ban Thưòng vụ Quốc Hội, vị này là nhân vật chính phải chịu trách nhiệm đưa nội vụ ra trước Quốc Hội để hủy bỏ điều 91 khoản 3 theo đúng qui định của điều 84 khoản 9 bản HP.

            (2). Ðối với Chánh An tòa án Nhân dân Tối Cao và Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao:

                       . Cả hai đều có trách nhiệm trực tiếp về sự vi phạm điều 91 khoản 3 của các tòa án trong nước

                         vì đã qua mặt Quốc Hội và nhân dân, tự cho phép các tòa án cái quyền giải thích và áp dụng

                         luật khi xử án, trong khi điều 91 khoản 3 của bản Hiến Pháp không cho phép làm như vậy.

                       . Trong vụ Luật sư Cù Huy Hà Vũ kiện tiêu hủy Quyết Ðịnh của Thủ Tướng Chính Phủ, Tòa

                         án Nhân Dân Tối Cao đã mau chóng hoàn trả đơn khởi tố của Luật sư Vũ với lý do ‘Toà

                         thiếu căn bản pháp lý ‘để giải quyết đơn kiện.  Câu hỏi được nêu ra ở đây là tại sao các tòa

                         án ở Việt Nam, mặc dầu không có căn bản pháp lý theo điều 91 khoản 3 bản HP nhưng  quí

                         vị vẫn tiếp tục và để cho các tòa án tiếp tục tiến hành công việc xét xử trong suốt suốt 17

                         năm qua mà không trình bầy  nghịch lý này lên Quốc Hội để giải quyết ?

                             

            (3). Ðối với hai vị Thủ Lãnh Luật sư đoàn  (Chairmen of the Bars Council) hai miền Nam, Bắc VN.

                  Giữ vai trò cố vấn và biện hộ cho thân chủ trong các vụ tranh tụng trước tòa, hẳn quí vị phải biết

                  rõ hơn ai hết về nhiệm vụ chính của tòa án là ‘giải thích và áp dụng luật’ (Interpretation and

                  Application of the law). Tại sao quí vị không đòi hỏi Chánh An Tòa án Nhân Dân Tối Cao phải

                  trình bày nghịch lý của điều 91 khoản 3 với Quốc Hội để hủy bỏ? 

            (4). Sau hết bài viết của này còn nhằm mục đích lưu ý thân nhân các nạn nhân của điều 88 bộ luật hình sự, các luật sư nhiệm cách cho họ, để cất lên tiếng nói mạnh mẽ, đặt vấn đề căn bản pháp lý của điều 91 khoản 3 trước tòa án trong phiên tòa mở sau ngày 24 tháng 9 năm 2009.

I.                   Tại sao nói điều 91 khoản 3 Hiến Pháp đã truất quyền giải thích luật của các tòa án VN khiến cho các tòa này không còn căn bản pháp lý để thi hành nhiệm vụ xử đoán nữa.

                    

Giải thích Luật là một quyền đương nhiên phải có của các tòa án chứ không phải của Quốc Hội như điều 91 khoản 3 của bản HP hiện hành của nước CHXHCNVN qui định. Mất quyền giải thích luật có nghĩa là tòa án mất căn bản pháp lý để giải quyết các vụ tranh tụng. Những bản án được các tòa xét xử trong thời gian từ ngày bản HP được ban hành cho đến khi điều 91 khoản 3 bị hủy bỏ, phải được xem như vô hiệu vì đã vi phạm Hiến Pháp. Chính sự hiện hữu của điều 91 khoản 3 trong bản Hiến Pháp là nguyên nhân đưa đến sự vô hiệu hóa thẩm quyền xét xử của tòa án cũng như hiệu lực của các bản án.

Thật vậy, điều 91 của bản Hiến Pháp qui định như sau:

Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội có những nhiệm vụ quyền hạn:

 

1.      Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc Hội

2.      Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc Hội

3.      Giải thích Hiến Pháp, Luật, Pháp lệnh

Ðiều 2 bản Hiến Pháp lại khẳng định: “ Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.”

Như vậy, một mặt, điều 2 của Hiến Pháp nhìn nhận rằng giữa 3 cơ quan công quyền của nhà nước là Lập pháp (Quốc Hội) Hành Pháp (Chánh Phủ) Tư pháp (Tòa án), mỗi cơ quan cần có quyền riêng để hành xử nhiệm vụ của mình, tránh dẫm chân lên nhau. Mặt khác, điều 91 khoản 3 lại phủ nhận cái quyền riêng biệt này của cơ quan Tư pháp, ủy quyền giải thích luật cho Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, tức là truất quyền giải thích luật của cơ quan tư pháp.

Mọi người đều biết tại các quốc gia tự do trên thế giới, sự phân nhiệm giữa 3 cơ quan công quyền được qui định như sau: cơ quan Lập Pháp hay Quốc Hội có nhiệm vụ  làm luật.; cơ quan Hành Pháp hay Chánh phủ có nhiệm vụ  thi hành luật; còn cơ quan Tư Pháp hay Tòa án có nhiệm vụ giải thích luật.

Mất quyền giải thích luật, tòa án sẽ không còn biết dựa vào đâu để thực thi nhiệm vụ xử đoán của mình nữa, nói cách khác, tòa án sẽ  ‘không có căn bản pháp lý đề xử đoán’ nữa. Hệ quả là tất cả các bản án Hình, Hộ, Hành chánh được tòa tuyên xử từ ngày bản Hiến Pháp được ban hành vào năm 1992 cho đến khi bị hủy bỏ đều được xem như vô hiệu. Lý do:

a)      Khi truy tố và xét xử các bị cáo, tòa bó buộc phải giải thích tội ‘tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN’ được dự liệu tại điều 88 bộ luật hình sự để giải quyêt vụ  án;

b)      Khi giải thích điều 88 để truy tố các bị cáo về tội “ tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN ” tòa đã tiếm quyền của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội hay đã vi hiến.

c)      Do vi phạm Hiến Pháp, người ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng các tòa án ở Việt Nam hiện nay không có căn bản pháp lý để xét xử bất cứ một vụ tố tụng nào dù là Hình, Hộ hay Hành chánh.

II.                Tìm hiểu những yếu tố vật chất và tinh thần của tội phạm qua câu châm ngôn ‘Actus non facit reum nisi mens sit rea’

 

Ðể tiện theo dõi việc giải thích và áp dụng luật của tòa án Việt Nam hiện hành từ giai đoạn truy tố đến xét xử được diễn tiến như thế nào, chúng tôi sẽ xử dụng bản án CTV c/ Lt sư Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân làm tài liệu phân tích hầu soi sáng cho công việc này.

Tuy nhiên, trước khi đi vào nội dung chính của việc giải thích và áp dụng luật, thiết nghĩ cũng nên xét đến yếu tố của tội phạm qua câu châm ngôn ‘Actus non facit reum nisi mens sit rea’ ( An act does not itself constitute guilt, unless the mind is guilty : Một hành động tự nó không cấu thành tội trừ phi hành động này được xem như có tội  về mặt tinh thần)

(1). Câu châm ngôn trên nhằm lưu ý tòa án đến 2 yếu tố sau đây của tội phạm và hệ quả của châm ngôn.

 

(a)    Yếu tố vật chất (the actus reus) hay sự thực hiện hành vi phạm pháp của bị cáo X

(b)   Yếu tố tinh thần (the mens rea) hay sự cố ý thực hiện hành vi phạm pháp của bị cáo X.

(2). Hệ quả thực tiễn của câu châm ngôn là Công tố Viện có trách nhiệm chứng minh rằng không còn hoài nghi gì nữa (beyond reasonable doubt) bị cáo X quả thật đã phạm tội.

                                1. Ý nghĩa của ‘actus reus’ hay ‘yếu tố vật chất của tội phạm’.

Từ ngữ “actus reus” hay ‘yếu tố vật chất của tội phạm’ bao gồm toàn thể các yếu tố nằm trong định nghĩa của tội phạm và phải được Công tố viện chứng minh.

Giả thử X bị truy tố về tội ‘giam giữ người trái phép’ (false imprisonment)

Yếu tố vật chất của tội phạm (actus reus) trong trường hợp này được cấu thành bởi các sự kiện sau:

                     . X giam giữ Y.

                     . X đã hạn chế sự tự do di chuyển của Y từ một địa điểm này đến một địa điểm khác.

                     . Hành động của X không được pháp luật cho phép.

Khi thiết lập yếu tố vật chất (actus reus) của tội phạm, Công tố viện phải chứng minh cho được:

                     . Hành động của X khi khóa căn phòng mà X biết rõ Y đang có mặt ở bên trong. 

                     . Hậu quả hành động của X khiến Y không thể dời khỏi căn phòng này được.

                     . Không có điều luật nào cho phép X hành động như vậy.

                     . Kết luận: CTV có đủ lý do để tin rằng “ Không còn hồ nghi gì về việc giam giữ người trái

                       phép của X ”.  

                     . X phải bị truy tố về tội danh này.

 

Chỉ cần Công tố viện không chứng minh được 1 trong 3 trường hợp kể trên để chứng tỏ rằng nội vụ đã có đầy đủ yếu tố vật chất (actus reus) của tội phạm thì Công tố viện không thể truy tố X về tội giam giữ người trái phép được. Nếu công tố viện cứ truy tố bừa bãi thì tòa án buộc phải đưa ra định nghĩa thế nào là “giam giữ trái phép”, thiết lập yếu tố vật chất của tội phạm, để rồi từng điểm một, bác bỏ bản cáo trạng cũa Công tố viện, truyền tha bổng bị cáo vì không đủ yếu tố buộc tôi theo tục giao ‘No actus reus, no crime’ (Không có yếu tố vật chất, không có tội phạm)

Xem như vậy, bằng chứng của yếu tố vật chất quả thật rất cần thiết để quy trách nhiệm cho bị cáo.

Yếu tố vật chất bao gồm toàn thể các yếu tố nằm trong định nghĩa của tội phạm.

                            2. Y nghĩa của ‘mens rea’ hay yếu tố tinh thần của tội phạm.

 

Yếu tố tinh thần của tội phạm (mens rea) được định nghĩa như sau: ‘có sự cố ý  phạm tội (criminal intention) để thực hiện một hành động bị luật pháp cấm đoán.

Việc trừng phạt này, do quốc gia chủ động nhằm mục đích trừng trị những kẻ có hành động và có ý đồ độc ác (wicked intent) nhưng kẻ chũ động lại không đưa ra được lý do để biện minh cho hành động của mình.

Xin nhắc lại ở đây, một tiêu chuẩn được đề ra cho các tội phạm hình sự là trước khi kết tội bị cáo, tòa án phải có đủ lý do để tin rằng ‘ không còn hồ nghi gì (beyond reasonable doubt) về sự phạm pháp của bị cáo X.

Như vậy, nếu X bị buộc vào tội trộm, Công tố viện  phải chứng minh rằng  ‘không còn hồ nghi gì  (beyond reasonable doubt) về việc X đã chiếm đoạt bất chánh tài vật của Y và có ý định giữ tài vật ấy lâu dài cho mình ( Thus, if X is to be convicted of theft, the prosecution must prove beyond reasonable doubt that he appropriated property belonging to Y and the appropriation had been carried out by  X dishonestly and with the intention of permanently depriving Y of that property).

Yếu tố tinh thần (Mens rea) của tội trôm chính là sự ‘ cố ý chiếm đoạt bất chánh tài vật của Y kèm theo ý định giữ  tài vật này lâu dài cho mình

Trên đây, chúng tôi đã trình bầy đơn giản vài nguyên tắc quan trọng trong thủ tục của một vụ án hình mà Công tố viện cũng như Tòa án bó buộc phải tuân theo. Giờ đây, chúng tôi cần lưu ý quí vị tới điểm quan trọng khác: Chính Tòa án chớ không phải Uy Ban Thường Vụ Quốc Hội, có nhiệm vụ giải thích luật. Cũng chính tòa án phải đưa ra định nghĩa tội phạm, xác định yếu tố vật chất và tinh thần của tội phạm nằm trong định nghĩa, xác định nguyên tắc ‘không còn hồ nghi gì về sự phạm tội của bị cáo’ trước khi tuyên án.

 

III. Việc giải thích luật và áp dụng luật trong vụ xử luật sư Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân

                                                                            A.  Cáo trạng    

 

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thì nội vụ xẩy ra như sau:

“Từ năm 2006 cho đến ngày bị bắt 6.3.2007,  tại Văn Phòng của luật sư Thiên Ấn, tại nhà riêng của Ðài và Nhân, Công An đã phát hiện (1) nhiều tài liệu có nội dung chống phá nhà nước, (2) tài liệu của đối tượng cơ hội chính trị trong nước biên soạn phát tán đã bị nhà nước cấm lưu hành, (3) hàng chục đầu tài liệu, ấn phẩm do các tổ chức người Việt phản động ‘lưu vong’ nước ngoài và các nhóm đối tượng chống đối trong nước phát tán trái phép. Các tài liệu này đều có nội dung bịa đặt, xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng, hiểu sai lệch đường lối, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà Nước; (4) kêu gọi nhân dân không tham gia bầu cử Quốc Hội khoá 12.

Ngoài ra hai bị cáo còn (5) viết bài, phát tán tài liệu có nội dung tuyên truyền kích động nhằm lật đổ nhà nước CHXHCNVN.

Ðầu năm 2006, Ðoàn luật sư Hà Nội đã tổ chức một cuộc họp vạch trần những sai phạm của Ðài, yêu cầu Ðài tự kiểm điểm. Tại buổi họp, Ðài nhận khuyết điểm, hứa hẹn chấm dứt những hành vi tương tự nhưng ngay sau đó, (6) Ðài đứng ra mở một số lớp học nhằm tuyên truyền chống nhà nước, xuyên tạc tình hình đất nước, vận động, giới thiệu các tổ chức bất hợp pháp do các đối tượng chống đối thành lập như ‘Ðảng Dân Chủ Thế Kỷ 21’ ‘Ðảng Việt Nam Thăng Tiến’ Khối 8406).

                                  B.  Phán quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

 

Ngày 11.5.2007, tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử hai bại cáo Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân về tội ‘ Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân’ tội trạng được` dự liệu v à trừng phạt bởi điều 88 khoản 1 (a,c) và điều 92 bộ luật hình sự.

Hội Ðồng xét xử đã tuyên án Nguyễn văn Ðài 5 năm tù giam, 4 năm quản chế; Lê thị Công Nhân 4 năm tù giam, 3 năm quản chế.

Theo qui định của bộ luật hình sự Việt Nam, những hành vi của Ðài và Nhân vi phạm luật, cần phải xử trị nghiêm khắc.”

                           C.  Nhận xét về phán quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

 

Ong Nguyễn văn Ðài và cô Lê thị Công Nhân đều bị Công tố Viện buôc vào tội: “Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân ”, tội trạng và hình phạt được dự liệu tại điều 88 bộ Luật Hình sự, khoản 1 (a, c) và hình phạt bổ xung, tại điều 92 bộ Luật Hình sự”.

Tội ‘tuyên truyền xuyên tạc và phỉ báng chính quyền nhân dân’ được dự liệu tại điều 88 khoản 1(a). Không thấy  phán quyết đề cập đến tội phạm qui định tại khoản 1(c) tức là “ tội tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân”

 

Nguyên văn điều 88 bộ luật hình sự được qui định như sau: “Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống nhà nước CHXHCNVN thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm:

a)      Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng  chính quyền nhân dân

b)      Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống nhà nước CHXHCNVN

c)      Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân.

 

. Những chữ được gạch bên dưới điều 88 bộ luật hình sự đều là những yếu tố vật chất của tội phạm, phải

  được Công tố viện hay tòa án định nghĩa hoặc giải thích rõ ràng.

. Ðiều 88 bộ luật hình sự có 2 vế

                  . Vế 1 :  tội tuyên truyền chống nhà nước XHCNVN

                  . Vế 2 :  giải thích cụm từ nhà nước XHCNVN của vế 1

Như vậy, phải hiểu ý nghĩa của cụm từ nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa VN như thế nào ?

(a)    : là chính quyền nhân dân ?

(b)   : là nhà nước XHCNVN ?

(c)    : là nhân dân ?

Chỉ riêng điều 88 của bộ luật hình sự, người ta đã nhận thấy có 3 lối giải thích khác nhau. Ðiều này cho thấy những qui định trong bộ luật hình thiếu rõ ràng và minh bạch.

Ðiều 2 của bản Hiến Pháp còn đưa ra định nghĩa cụm từ nhà nước CHXHCNVN khác hẳn điều 88:

“ Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước của nhân dân do dân, vì dân. Nhân dân là toàn thể các dân tộc cùng sinh sống hòa bình trên lãnh thổ Việt Nam.”

Trong hai lối giải thích điều 88 bộ luật hình sự, lẽ dĩ nhiên lối giải thích theo điều 2 của bản Hiến Pháp có giá trị hơn là vì Hiến Pháp có hệ cấp pháp lý (ordonnancement juridique) cao hơn đạo luật. (Hệ cấp pháp lý được Quốc Hội nước CHXHCNVN gọi là Quy Phạm Pháp Luật)

Các yếu tố vật chất của  tội phạm liệt kê tại điều 88 khoản 1(a, b và c) bộ luật hình sự dưới đây không được định nghĩa, do đó những chứng cứ nêu ra trong ‘cáo trạng’ cũng như trong bản án của tòa sơ thẩm không xác định được hành vi phạm tội của bị cáo, qui định tại điều 88 khoản 1(a, b và c) bộ luật hình sự:

(1)   tuyên truyền 

(2)    chống 

(3)    nhà nước CHXHCNVN

(4)   Phỉ báng

(5)   Chính quyền nhân dân

(6)    Luận điệu chiến tranh tâm lý ?

(7)    Phao tin bịa đặt ?

Như đã trình bầy ở trên, việc xác định yếu tố vật chất của tội phạm rất cần thiết. Không xác định được yếu tố vật chất của tôi phạm, tòa án không thể kết tội bị cáo được. Hệ quả là bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên phạt hai bị cáo Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân vô hiệu. Lý do:

                      . Tòa án nhân dân thành phố Hà nội đã  vi phạm điều 91 khoản 3 bộ luật hình sự vì đã giải thích luật khi xét xử hai bị cáo.

                      . Dẫu cho bản Hiến Pháp không có điều 91 khoản 3, nghĩa là không truất quyền giải thích luật của các tòa án , thì bản án xử hai bị cáo vẫn vô hiệu bởi lẽ ‘bản án sơ thẩm không xác định được` yếu tố vật chất của tội phạm’ qui định tại điều 88 khoản 1(a,c) bộ luật dân sự.

IV. Luận cứ của Luật sư Lê công Ðịnh biện hộ cho đồng nghiệp Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân

             tại phiên tòa phúc thẩm Hà Nội chống bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Hà Nội

 

(1). Xuyên qua bản lý đoán của Luật sư Lê công Ðịnh thì các chứng cứ nêu lên trong bản án sơ thẩm không xác định được hành vi phạm tội dựa vào yếu tố cấu thành tội phạm như qui định tại điều 88 bộ luật hình sự.

(2). Vì chứng cớ không rõ ràng nên lập luận của Tòa sơ thẩm và vị đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa chủ yếu dựa trên suy đoán và áp đặt, nhưng lại suy6 đoán theo hướng có tội vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam và nền tảng của tất cả luật hình sự trên thế giới.

(3). Ngày 19/11/2007, các luật sư biện hộ yêu cầu triệu tập 17 nhân chứng nhưng chỉ có 5 nhân chứng dự phiên tòa phúc thẩm. Vì lý do trên, tôi khẳng định rằng các chứng cứ trongt vụ án khgông đủ để kết luận luật sư Nguyễn văn Ðài và  Lê thị Công Nhân phạm tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN theo điều 88 bộ luật hính sự.

A.     Yếu tố cấu thành tội phạm

 

1.      Thế nào là chống nhà nước CHXHCNVN thì điều 88 và cả bộ luật hình sự đều không xác định. Vì vậy cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát Nhân dân và Tòa Sơ thẩm đã tùy tiện suy đoán.

2.      Chủ Tịch Ðảng Cộng Sản Việt Nam, các vị lãnh đạo cao cấp của Ðảng và nhà nước, thực trạng xã hội, dân chủ và nhân quyền không thể được xem là “chống nhà nước CHXHCNVN” vì lý do sau:

a)      không thể suy diễn theo hướng đồng hoá đảng CSVN với nhà nước CHXHCNVN vì như vậy sẽ trái với Hiến Pháp hiện hành.

b)      bàn về thực trạng xã hội không thể suy diễn là chống

c)      bàn đến dân chủ và nhân quyền không thể được suy diễn thành chống nhà nước CHXHCNVN trừ phi nhà nước đó chống lại dân chủ và nhân quyền.

3.      Chưa có sự thẩm định độc lập của bất kỳ cơ quan hoặc tổ chưc độc lập nào về nội dung

      các tài liệu tịch thu từ nhà và nơi làm việc của Luật sư Nguyễn văn Ðài à Lê thị Công

      Nhân để kết luận những tài liệu đó có nội dung chống nhà nước CHXHCNVN hay

      không.

      Thiếu thẩm định khách quan cho thấy nhận định và kết luận của cơ quan điều tra và

      Viện Kiểm sát nhân dân trong vụ án này hoàn toàn có tích chất chủ quan, thiên lệch. Vì

      vậy bản án sơ thẩm thiếu công bằng và sai lầm.

 

B.     Thế nào là ‘chống nhà nước XHCNVN’

 

1.      Về phương diện pháp lý chỉ có thể xem là chống nhà nước CHXHCNVN nếu hành vi bị

                                truy tố chống lại Hiến Pháp hiện hành

2        Hành vi của hai luật sư Nguyễn văn Ðài và Lê thi Công Nhân có thể xem là chống lại

      Hiến Pháp hiện hành không ? Tội xin khẳng định là không.

a)      đề nghị đa đảng không thể bị xem là trái Hiến Pháp.

      Thật vậy, điều 4 Hiến Pháp khẳng định vai trò của đảng CSVN đối với nhà

      nước và xã hội, rõ ràng là không nghiêm cấm việc lập Ðảng hoặc lập Hội

      ngoài đảng Cộng sản. Như vậy, đề nghị một thể chế đa đảng không đồng nghĩa

      với việc chống lại chế độ XHCN.

b)      Ung hộ, tham gia các tổ chức chính trị khác cũng không thể xem là trái Hiến Pháp. Vì Việt Nam chưa có Tòa án HP nên không thể tùy  tiện tuyên bố hoạt động của bất kỳ phán quyết nào của tòa án các cấp xem xét về tính chất hợp Hiến và hợp pháp của những tổ chức như ‘Khối 8406’, ‘Ðảng Thăng tiến Việt Nam’ ‘ Công đoàn độc lập. Do đó, việc vội vã kết luận những tổ chức này là chống nhà nước rõ ràng thiếu cơ sở pháp lý.

c)      Kêu gọi tôn trọng bảo vệ nhân quyền và dân chủ càng không thể bị xem là trái HP. Nội dung các tài liệu và tài liệu của luật sư Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân nhằm mục đích kêu gọi thực hiện các quyền công dân và nhân quyền được qui định tại các điều 69, 70 và 71 của Hiến Pháp hiện hành, theo  đó công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật, có quyền tự do tín ngưỡng và có quyền được pháp luật bảo vệ tánh mạng, danh dự và nhân phẩm.

      Chỉ trích, lên án những hành vi thiếu tôn trọng hoặc vi phạm quyền công dân

      và nhân quyền được qui định tại các điều 69,70 và 71 của Hiến Pháp không

      thể bị xem là chống nhà nước CHXHCNVN, trái lại chỉ những hành vi vi

      phạm quyền công dân và nhân quyền mới là chống Hiến Pháp, do đó chống

      nhà nước.

C.     Quyền tự do trình bầy ý kiến và quan điểm cá nhân theo luật quốc tế.

 

Nhà nước Việt Nam có bổn phận tuân thủ các điều ước quốc tế đã gia nhập hoặc công nhận, đặc biệt là Công Ước Quốc Tế mà Việt Nam là thành viên. Luật quốc gia cần phải được ban hành, sửa đổi, giải thích và thi hành theo qui định của các điều ước quốc tế đó.

              Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, người dân có những quyền sau:

a)      . Quyền giữ vững uan điểm của mình

b)        Quyền tự do phát biểu quan điểm

Cần lưu ý rằng trước khi bị bắt giam, hai luật sư Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân đang hành nghề luật sư. Với tư cách là luật sư, họ có vai trò và quyền hạn được qui định bởi các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư (Basic Principles on the Roles of Lawyer) do Hội nghị LHQ lần thứ 8 về phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội tổ c`hức tại Havana từ 27.8.1990  -  7 .9. 1990.

             D. Lớp học Nhân quyền.

Trong kế hoạch phổ biến sự hiểu biết chung về cơ bản nhấn quyền trên toàn thế giới, Cao Ủy LHQ về nhân quyền đã khuyến khích các quốcn gia, tổ chức phi chính phủ và nhóm xã hội tổ chức những lớp học về nhân quyền. Ðây là một chương trình toàn cầu mang tên “ Chương trình thế giới về giáo dục nhân quyền được LHQ thông qua trong Nghị Quyết số 59/113A ngày 10/12/2004. Với tư cách là thành viên của LHQ, Việt Nam lẽ ra nphải thực hiện và bảo đảm việc thực hiện chương trình này.

Các buổi thảo luận tại Văn Phòng luật sư Thiên Ấn được tổ chức trong khuôn khổ chương trình nói trên. Nội dung và tài liệu c`ủa những buổi thảo luận hầu hết chỉ liên quan đến vấn đề nhân quyền nói chung va vai trò của luật sư trong việc bảo vệ nhân quyền. Tôi xin nêu ra đây nội dung của tập tài liệu mà cơ quan điều tra tịch thu (xem bút lục từ số 610 – 635)

1.      Mục đích chương trình tập huấn đưa ra những hiểu biết có hại về nhân quyền

2.      Nhân phẩm, nền tảng của nhân quyền

3.      Xây dựng một xã hội dân chủ làm nền tảng cho sự phát triển nhân lực và nhân tài cho Việt Nam

4.      Ðánh giá vệc thực hiện dân chủ ở nước ta sau 20 năm đổi mới.

5.      Chương trình huấn luyện luật sư nhân quyền.

Giảng dậy và thảo luận về nhân quyền, dân chủ không thể xem là chống nhà nước CHXHCNVN, càng không có lý do hoặc cơ sở pháp lý nào để bỏ tù những người đảm nhiệmcông việc đó hoặc gán cho họ tội danh tuyên truyền chống nhà nước.

E. Yêu nước có phải là phạm tội không

 

Có thể luật sư Nguyễn văn Ðài và Lê thi Công Nhân đã công khai bầy tỏ quan điểm và ý kiến riêng trái ngượcvới quan điểm chính thống của nhà nước VN đang tuyên truyền và thích nghe nhưng không vì thế mà có thể nghi ngờ ý định và động cơ của họ.Cựu Thủ Tướng VO VAN KIET từng tuyên bố: “Chính kiến khác nhau, ý kiến khác nhau là bình thường, điều quan trọng là cần phải có đối thoại, nói chuyện với nhau một cách sòng phẳng (phỏng vấn của đài BBC ngày 17.4.2007) Ong cũng khẳng định “Tổ Quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình chứ không phải là của riêng của người Cộng Sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả.

Hai luật sư Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhânlà những người yêu nước và chỉ có yêu nước họ mới dũng cảm nói lên một cách công khai về hòa bình, quan điểm riêng của mình và tìm kiếm sự ủng hộ quan điểm ấy của những người Việt Nam yêu nước khác ngoài đảng Cộng sản. Hành động của họ cần được khuyến khích vì đã dám đứng lên bảo vệ niềm tin của mình.

            F. Kết luận và đề nghị

Những lý lẽ trên, với tư cách là luật sư biện hộ cho hai đồng nghiệp là luật sư Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân , tôi kết luận rằngkhông có đạo luật hiện hành nào của VN tạo ra hoặc hội đủ cơ sở pháp lý để kết tội và kết án họ. Họ đương nhiên vô tội.

Tôi đề nghị Hội Ðồng xét xử “tuyên bố trả tự do cho luật sư Nguyễn văn Ðài và Lê thị Công Nhân, đồng thời trả lại tài sản cho họ.

Tôi xin chân thành cám ơn Hội Ðòng xét xử đã lắng nghe ý kiến của tôi (Chấm hết).

                                             V.  PHAN  QUYET  CUA  TOA  PHUC  THAM

Thẩm Phán Nguyễn minh Mẫn thay mặt Hội Ðồng xét xử đã tuyên mức án mới đối với các bị cáo nhưng  vẫn giữ nguyên mức án quản chế sau hạn tù giam.

Chủ tọa phiên tòa dẫn lý: “ Không thể coi hành vi đó là đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền  và nhân phẩm. hành vi của bị cáo trái Hiến Pháp, vi phạm luật hình sự nên không chấp nhận kháng cáo.” của các bị cáo.

                                    VI. NHẬN  XET  VỀ  PHAN QUYÊT  CUA  TOA  PHUC  THAM

 

1.      Trước khi đưa ra nhận xét về Phán quyết của Tòa Phúc thẩm, một lần nữa, chúng tôi xin nhắc lại ở đây rằng ‘ các tòa án hiện hành ở Việt Nam không có căn bản pháp lý để xét xử bất cứ một vụ tranh tụng  nào dù là Hình, Hộ hay Hành chánh, vì theo điều 91 Khoản 3 bản Hiến Pháp, quyền giải thích pháp luật thuộc về Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, chứ không thuộc Tòa án. Một khi mất quyền giải thích pháp luật, các tòa án đương nhiên mất căn bản pháp lý để hoàn thành nhiệm vụ xử đoán của mình.

 

2.       Sở dĩ có bài viết này là để chứng minh cho mọi người thấy rằng dù cho bản HP không còn điều 91 khoản 3 nữa thì việc giải thích và áp dụng luật của Công tố viện và các Tòa án hiện hành ở Việt Nam vẫn sai lầm khi đưa ra những phán quyết cho bản án.

 

Phán quyết của tòa phúc thẩm hay tòa xử kháng cáo, không chỉ sai lầm về mặt hình thức mà về mặt nội dung, phán quyết còn cho thấy tòa phúc thẩm (Toà án Nhân Dân Tối Cao của nước CHXHCNVN) dường như không hiểu rõ nhiệm vụ của mình trong vai trò của một tòa xử kháng cáo. Thật vậy:

 

                    a). Về mặt hình thức

 

Thông thường một bản án phải gồm 3 phần:

                           . Phần trần thuật (Summary of the facts)

                           . Phần lý do của bản án (the reasoning of the judgment)

                           . Phần phán quyết của bản án (the actual ruling of the judgment)

Phán quyết của tòa Phúc Thẩm Hà Nội dùng từ ngữ không rõ ràng minh bạch khi ám chỉ những yếu tố ật chất của tội phạm là hành vi đó’  (hành vi nào?) không thể được coi là đấu tranh cho dân chủ , vi phạm hình luật (vi phạm điều nào của bộ luật hình sự? vi phạm như thế nào?)

Phán quyết như vậy được coi là thiếu lý do ,  phải bị hủy bỏ (quashed) bởi Tòa Phá án (Cours de Casation) nếu xẩy ra ở Pháp; bởi Tối Cao Pháp Viện (Supreme Court of justice) nếu xẩy ra ở Hoa kỳ hay bởi Qúi tộc Pháp Viện  (The House of Lords) nếu xẩy ra ở Anh.

Tại sao các hệ thống pháp luật trên thế giới lại đòi hỏi quyết định của tòa án phải nêu rõ lý do? Ðiều này được giải thích như sau: “ Trừ phi người công dân tìm thấy lý do đưa đến phán quyết, người công dân  sẽ không thể quyết định nên hay không nên đưa nội vụ lên tòa trên để xin tái thẩm hay phá án, và như vậy, người công dân sẽ không nhận được sự bảo vệ của luật pháp. (Unless the citizen can discover the reasoning behind the decision, he may be unable to tell whether it is reviewable or not, and so he may be deprived of the protection of the law.)

                      b). Về mặt nội dung.

 

Phán quyết cho thấy tòa phúc thẩm không hiểu rõ  nhiệm vụ của mình trong vai trò của một tòa xử kháng cáo . Người ta có thể tìm hiểu nhiệm vụ của Tòa phúc thẩm hay Tòa xử kháng cáo (Court of Appeal) qua hai định nghĩa: định nghĩa từ ngữ ‘kháng cáo’ dành cho bị can và ‘vai trò của kháng cáo đối với bản án của tòa dưới.’

. Ðịnh nghĩa từ  ngữ ‘kháng cáo’ đối với bị can

 

Ðối với bị can, kháng cáo có nghĩa là ‘lời thỉnh cầu tòa phúc thẩm duyệt xét lại bản án của tòa dưới’ căn cứ vào những gì mà mình cho là vi luật hay  việc giải thích các sự kiện không đúng với những thực tế xẩy ra, đã  được nêu lên trong khi tranh luận trước tòa’

 

Ðây là những chỉ trích bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Hà Nội được trình bầy trong lý đoán của ông để đệ nạp lên tòa phúc thẩm.

 

.  Ðịnh nghĩa từ ngữ ‘kháng cáo’ đối với  Tòa Phúc thẩm  hay Tòa xử kháng cáo

 

Vai trò của Tòa Phúc thẩm hay tòa xử kháng cáo đối với bản án của tòa dưới là “ duyệt xét lại bản án bị chống đối của tòa dưới, để biết chắc rằng  việc giải thích và áp dụng luật có được tòa này tôn trọng hay không, và tòa phúc thẩm có nên cho phép tòa dưới giữ lại phán quyết này hay không”

 

(The role of the Court of Appeal  is to look into the lower court’s decision under attack to ascertain whether the interpretation and application of the law was correctly observed and whether that decision was allowed to stand.)

   

Toà phúc thẩm đã không hành xử đúng theo chức năng của mình. Thay vì phải duyệt xét xem bản án của tòa sơ thẩm Hà nội có giải thích và áp dụng luật đúng theo tinh thần của điều 88 bộ luật hình sự dành cho tội danh của các bị cáo hay không, bằng cách so sánh cáo trạng của Công tố viện với lời chỉ trích bản án sơ thẩm của luật sư Lê công Ðịnh để xem bên nào áp dụng luật đúng bằng một bản án, tòa phúc thẩm lại đưa ra phán quyết theo sự suy đoán theo cảm tính riêng của mình, dưới  hình thức một văn thư, với nội dung khẳng định rằng ‘tòa không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị can’, trái với nhiệm vụ của mình. Phán quyết của tòa Phúc thẩm vô hiệu, phải bị hủy bỏ.

Với việc hành xử thẩm quyền như vậy, Tòa Phúc thẩm Hà Nội đã khiến người ta quan ngại về khả năng chuyên nghiệp cũng như tính ngay thẳng (the competence and integrity) của thành phần xử án tại các tòa án ở Việt Nam hiện nay, dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Một tòa án tối cao gồm những thẩm phán có ngạch trật cao nhất nước, mà còn không hiểu rõ về những thủ tục pháp lý cơ bản thì làm sao có thể đòi hỏi nơi các thẩm phán cấp thấp như Huyện, Tỉnh có sự xét xử công minh và vô tư được?

Xin nhắc lại ở đây chính sách ‘bổ trợ tư pháp’ của Văn phòng Quốc Hội nước CHXHCNVN, được đưa lên mạng ngày 10.9.09, có đoạn viết như sau:

Hiện tại, dẫu các cơ quan tư pháp đã cố gắng nhưng vẫn còn những việc điều tra, truy tố, xét xử oan, sai, không tôn trọng thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, tạm giữ như luật định, áp dụng các biện pháp tư pháp (được qui định trong bộ hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội, ngoài các hình phạt; đó là biện pháp tịch thu tang vật, tiền bạc`, trả lại tài sản, sữa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, xin lỗi...)thiếu căn cứ pháp lý  và sai mục đích; cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án, bức cung, mớm cung, bao che kẻ phạm tội, nhận hối lộ hoặc quan hệ thân quen với bị can, bị cáo, xét xử oan, không những gây bất hạnh cho người đó mà còn làm cho gia đình họ khuynh gia, bại sản.

Xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người ngay là những nguyên tắc quan trọng trong việc thực` hiện quyền lực tư pháp đã được Ðảng và Nhà Nước đề ra.”

Chắc chắn chính sách bổ trợ tư pháp của Văn Phòng Quốc Hội sẽ được các bị can, thân nhân của họ rất hoan nghênh. Họ sẽ yêu cầu Quốc Hội hủy bỏ điều 91 khoản 3 bản Hiến Pháp, nếu QH muốn ngành tư pháp còn tồn tại để ‘thi hành công lý’,làm đẹp cho chế đô và nhà nước ‘pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa VN’.

Ðể kết luận, chúng tôi đề nghị thân nhân các bị can từng bị tòa lên án bất hợp pháp trong suốt 17 năm qua, kể từ ngày bản Hiến Pháp 1992 được ban hành cho tới ngày nào mà điều 91 khoản 3 được Quốc Hội hủy bỏ, các luật sư nhiệm cách cho 8 bị cáo sắp ra hầu tòa với tội danh vi phạm điều 88 bộ luật hình sự vào tháng 10 tới đây, hãy gửi thư cho Quốc Hội, Chánh An Tòa án Nhân dân Tối Cao, Viện Trường viện Kiểm sát Nhân Dân Tối Cao để yêu cầu giải quyết những vụ xét xử vi hiến của các tòa án trong thời gian 17 năm qua. yêu cầu Quốc Hội hủy bỏ điều 91 khoản 3 bản Hiến Pháp để các tòa án có căn bản pháp lý hành xử nhiệm vụ xử đoán của mình.

Ngày 28 tháng 9 năm 2009    

 


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com