Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

 

Siết họng báo chí Việt Nam

 

Người làm báo ở Việt Nam phải rất can đảm và khôn khéo, vì lúc nào cũng đi dây, không khéo thì té ngã. Té nguy hiểm, vì trên cổ người làm báo lúc nào cũng có những cái thòng lọng, sẵn sàng siết cứng. Ông Nguyễn Tấn Dũng mới ban ra một chỉ thị siết chặt thêm những sợi dây thòng lọng trên cổ báo chí Việt Nam.

Cảnh đi dây nguy hiểm như thế nào, nhìn vào những tin tức về tham nhũng thì biết. Tham nhũng tràn ngập khắp nước được chính các lãnh tụ cộng sản coi là quốc nạn, các nhà báo thấy những tai hại do tham nhũng gây ra đều muốn loan tin. Nhưng phải đi dây coi tham nhũng cỡ nào thì được loan tin, cỡ nào bị cấm. Nhưng điều tra tham nhũng là nhà báo làm bổn phận đối với độc giả, với dân tộc, vì cả nước đều biết tham nhũng còn lộng hành thì kinh tế không tiến lên được. Phải khen ngợi các đồng nghiệp của chúng tôi ở trong nước; hễ thấy đảng hé một khe cửa nào ra là họ hăng hái xông vào. Trong phong trào chống tham nhũng, báo chí đã đi săn tin, loan tin nhiều vụ động trời. Nếu không có các tờ báo thì làm sao dân Việt Nam biết được có những người đem tiền của nhân dân đánh cá, tốn bạc triệu đô la? Nhưng bây giờ đảng Cộng Sản đã run, muốn khóa miệng cho các nhà báo bớt hăng say đi, tiêu biểu là trong vụ in tiền.

Các nhà báo ở Sài Gòn khám phá ra đồng tiền do Ngân Hàng Nhà Nước phát hành in trên loại giấy “polimer” tồi, tiền in ra mực lem luốc, có đồng tiền in không đủ hình nhũ vàng, có đồng tiền không đúng kích thước. Nhà báo lại nghe một đại biểu quốc hội nói con trai của ông thống đốc ngân hàng là phó giám đốc của một công ty lớn liên quan đến việc in tiền. Rồi lại có người bên trong Ngân Hàng Nhà Nước cho biết đã can đừng in tiền bằng giấy polymer nhưng không được sếp chấp thuận. Tất nhiên người làm báo có lương tâm phải nêu các sự kiện đó lên cho công chúng biết. Ở tất cả các nước tự do trên thế giới các nhà báo đều làm công việc thông tin như vậy. Báo nào tìm được tin mới và sớm nhất sẽ được độc giả tín nhiệm. Nhưng ở Việt Nam thì khác. Sau khi loan báo các tin tức đó, tám tờ báo ở bị “xử phạt hành chánh,” và ba tờ báo bị đóng cửa.

Bây giờ hãy coi ở một nước tự do trong một trường hợp tương tự người ta hành xử như thế nào. Nếu Bộ Tài Chánh Mỹ in đồng đô la bằng giấy chất lượng kém cỏi thì báo nào tìm ra tin đó sẽ loan tin ngay, giành loan tin sớm nhất. Nếu lại biết công ty in tiền là con cháu ông bộ trưởng tài chánh, thì càng nên báo tin cho dân chúng biết thêm. Ví dụ, sau đó ông bộ trưởng đưa ra bằng chứng nói rằng hợp đồng in tiền đã ký với công ty này từ 10 năm trước khi ông ấy nhậm chức, thì sao? Họ có thể kiện các tờ báo ra tòa vì loan báo hai tin bên cạnh nhau, khiến thanh danh của ông bộ trưởng bị thương tổn. Tòa án sẽ xử theo luật. Nhưng chắc quan tòa sẽ không phạt các tờ báo về tội loan tin vội vàng trước khi kiểm chứng kỹ, làm ông bộ trưởng mang tiếng oan uổng. Tại sao tòa không phạt? Vì có những đạo luật ở Mỹ bảo vệ người làm báo và “quyền được nghe thông tin” của dân Mỹ.

Khi loan tin về hành động của những nhân vật có trách nhiệm lớn, như các bộ trưởng, hoặc những người có danh tiếng như các cầu thủ nổi danh, nhà báo có thể đăng tin trước khi kiểm chứng, để công chúng biết tin sớm. Những người quyền thế hoặc danh tiếng, gọi là “nhân vật của công luận” (public figures) có ảnh hưởng đến quần chúng. Họ không thể bắt lỗi nhà báo khi loan tin sai vì chưa kiểm chứng. Các nhà lập pháp Mỹ khi làm ra các đạo luật này đã cân nhắc, thấy “quyền được thông tin nhanh chóng” của công chúng quan trọng hơn quyền “bảo vệ uy tín” của các nhân vật công cộng. Nếu nhà báo ngay tình muốn làm tin nhanh mà vì thế loan tin sai lầm, họ cải chính lại là đủ nếu có bằng cớ, chứ không thể bắt tội họ được. Vì họ phục vụ cho công luận. Việc cung cấp thông tin nhanh chóng cho công chúng biết là một điều kiện cần thiết cho một xã hội sống tự do, lành mạnh và tiến bộ. Gây trở ngại cho việc thông tin là có tội, vì làm cho cả xã hội chậm tiến.

Khi xử phạt các tờ báo ở trong nước vì họ loan tin về vụ in tiền polymer bê bối, đảng Cộng Sản Việt Nam đã đặt quyền lợi của quan chức Ngân Hàng Nhà Nước lên trên quyền lợi chung của mọi người dân, quyền được thông tin. Họ đặt quyền lợi các đảng viên cộng sản lên trên nhiệm vụ thông tin mà các đồng nghiệp của chúng tôi ở trong nước đang gánh vác.

Nếu muốn bênh vực các quan chức của họ, đảng Cộng Sản Việt Nam phải có can đảm thưa kiện các tờ báo loan tin trên ra tòa, coi họ có phạm luật nào hay không. Phải có can đảm cho người làm báo tự biện hộ, đưa ra các nhân chứng đối chất, để coi các tin tức đã loan báo là sai hay đúng. Nhưng không, đảng Cộng Sản chỉ “xử phạt hành chánh” và đóng cửa các báo. Lệnh của đảng là lệnh tối hậu, không ai được bàn cãi. Như thế thì những người làm báo khi đi săn tin tức, biết tin nào nên loan báo, tin nào không nên in? Không lẽ bất cứ thấy một bản tin nào “nhạy cảm” có thể đụng tới các “sếp lớn” đều phải trình lên xin phép các sếp trước khi in? Mà biết xin phép sếp nào?

Không biết vị sếp nào có thể siết sợi dây thòng lọng treo trên cổ mình, vì nhiều sếp quá. Ðó là nỗi khổ của người làm báo ở Việt Nam. Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng mới ban ra một chỉ thị vẽ ra đầy đủ danh sách các dây thòng lọng.

Chỉ thị số 37 ngày 29 Tháng Mười Một năm 2006 (ghi rõ để nhớ một ngày tang tóc của báo chí nước ta, hàng năm con cháu nhớ đến ngày đó thì thắp hương) ra lệnh cho đủ các thứ cơ quan của đảng và nhà nước làm những việc gọi là “rà soát, thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh, sắp xếp, kiện toàn, bố trí, xử lý nghiêm, xử lý sai phạm, xử lý kỷ luật, hướng dẫn, lãnh đạo, động viên, thực hiện, tổ chức,” công việc thông tin hàng ngày những của người làm báo. Phải liệt kê tất cả những động từ trên đây, những chữ nghe đúng giọng công an mật vụ như “rà soát, thanh tra, kiểm tra” được bản chỉ thị lặp đi lặp lại nhiều lần, để quý vị có thể tưởng tượng các người làm báo ở nước ta đang bị đe dọa như thế nào.

Ở một nước tự do, một ông tổng thống hay ông thủ tướng không bao giờ phải ra chỉ thị cho ai làm gì với các nhà báo hết. Quyền làm báo tự do là quyền đương nhiên, các nhà báo cũng bình đẳng với các bà bán xôi hay các em bé đánh giày. Khi nào có ai phạm luật thì họ bị truy tố hay bị thưa kiện như nhau cả. Người làm báo cũng như bà bán xôi ở khu Tiểu Sài Gòn không ai phải nghe ông George W. Bush hay ông Arnold Schwarzenegger ra lệnh cho ai “rà soát, thanh tra, chấn chỉnh, sắp xếp, kiện toàn, bố trí, xử lý, hướng dẫn, động viên, thực hiện, tổ chức” công việc làm báo cả. Các ông, các bà lớn cả rồi, làm báo hay bán xôi thì cũng như mọi người thường dân khác, phải tôn trọng pháp luật. Ai mà đòi rà soát, xử lý, hướng dẫn, động viên họ, họ chửi cho ngay.

Tại sao ông thủ tướng nhà nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa phải làm ra một cái một chỉ thị 37 như vậy? Mà tại sao các nhà báo đều im thin thít, coi như chuyện này đang xảy ra bên Congo? Vì đảng của ông Nguyễn Tấn Dũng nắm độc quyền thông tin. Tất cả các tờ báo, báo in hay mạng lưới, đài phát thanh, truyền hình, đều do đảng làm chủ. Không có ai được làm báo bên ngoài vòng kiểm soát của đảng. Ðảng mướn ai làm báo thì người đó trở thành nhà báo. Họ làm công cho một ông chủ độc quyền, ông ấy cấp giấy hành nghề, ông chủ sa thải thì họ không còn là nhà báo nữa. Chỉ thị 37 của ông Nguyễn Tấn Dũng cũng giống như lệnh của một ông giám đốc đồn điền cao su, bảo các cặp rằng phải “rà soát, kiểm tra, động viên, tổ chức, rà soát lần nữa, xử lý nghiêm, quản lý đội ngũ” các công nhân cạo mủ, theo lệnh ông chủ. Tất cả những nơi nhận được chỉ thị đó hiểu rằng họ phải thi hành, không được cãi. Ông chủ được nêu tên trong chỉ thị là Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản.

Cứ nhìn vào danh sách những cơ quan mà ông Nguyễn Tấn Dũng gửi chỉ thị của ông thì thấy có hàng ngàn con mắt phải chăm chú rà soát, hàng ngàn bàn tay đang nắm sẵn sàng còng số tám để “xử lý” các nhà báo của chúng ta. Ông Dũng ban chỉ thị cho các bộ và cơ quan ngang bộ, cho các hội đồng nhân dân các tỉnh và thành phố, cho văn phòng trung ương và các ban của đảng Cộng Sản, cho cơ quan trung ương của các đoàn thể, cho quốc hội, cho cả tòa án nhân dân tối cao nữa!

Trực thuộc ông thủ tướng có Bộ Văn Hóa-Thông Tin. Họ phải lo chủ trì việc “rà soát, kiểm tra, động viên, tổ chức, xử lý...” các nhà báo. Nhưng chưa hết, còn có Ban Tư Tưởng-Văn Hóa Trung Ương, các hội đồng nhân dân tỉnh và thành phố, có bộ tài chính, có các cơ quan chủ quản tức là đứng tên xuất bản báo, có những cơ quan báo chí ở địa phương, tất cả cùng lo làm nhiệm vụ “rà soát, thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh, sắp xếp, kiện toàn, bố trí, hướng dẫn, lãnh đạo, động viên, thực hiện, tổ chức, xử lý kỷ luật,” các người làm báo. Tức là trên cổ các người làm báo ở nước ta có hàng trăm cái dây thòng lọng, chỉ cần một sợi dây siết lại cũng đủ nghẹt thở! Cho nên phải ca ngợi đức can đảm chịu đựng của người làm báo ở Việt Nam.

Ông Nguyễn Tấn Dũng không phải là người dựng lên chế độ thòng lọng đó. Công trình này đã được Thống Chế Stalin ở Liên Xô sáng chế ra, được Hồ Chí Minh nhập cảng về dùng trong nước Việt Nam, được các ông Trường Chinh, Lê Duẩn, Ðỗ Mười... phát triển, kiện toàn, bổ sung, mỗi ngày một chặt chẽ hơn. Tựu trung, đảng Cộng Sản cầm quyền muốn kiểm soát cái đầu của tất cả mọi người, cho trong đó chứa cái gì thì người dân được biết cái đó. Có như vậy mới cầm quyền lâu được, lâu được ngày nào hay ngày đó. Ông thủ tướng chính phủ chỉ nhắc lại cho các nhà báo đừng quên những cái thòng lọng trên cổ họ. Hơn nữa, đảng ông cần đe dọa những công dân đang quyết tâm thể hiện quyền tự do báo chí ghi trong hiến pháp, họ đã làm các tờ báo Tự Do Dân Chủ (nhà văn Hoàng Tiến, Luật Sư Nguyễn Văn Ðài,) báo Tự Do Ngôn Luận (Linh Mục Chân Tín), vân vân. Cho nên muốn chắc ăn, ông Nguyễn Tấn Dũng còn lặp lại một chủ trương cấm báo tư nhân, bằng một câu có thể coi là tư tưởng biện minh cho chính sách độc quyền thông tin của đảng Cộng Sản. Chỉ thị 37 của ông Dũng viết: “Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước.”

Người làm báo hay không làm báo đều có thể đặt câu hỏi này: Có phải là báo chí hễ của tư nhân thì bao giờ cũng “phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước” hay không? Các ông đọc thử hai “tờ báo tư nhân” kể tên trên đây xem có ích lợi cho đất nước, cho người dân biết bao nhiêu? Hãy nhìn ra ngoài, coi các quốc gia có báo chí tư nhân, so sánh với những nước chỉ có báo của đảng và nhà nước, thì thấy sao? Những nước đầy rẫy những tờ báo, mạng lưới, đài truyền hình tư nhân như Nhật Bản, Thụy Ðiển, Canada, cũng là những nước kinh tế phát triển cao nhất và xã hội lành mạnh, chính quyền ít tham nhũng nhất. Còn những nước chỉ có báo của đảng và nhà nước độc quyền như Miến Ðiện, Bắc Hàn, Cuba, cũng là những nước nghèo nàn lạc hậu và tham nhũng nhiều nhất. Thế thì tại sao lại cứ nhét vào đầu người ta cái ý tưởng là làm báo tư nhân thì chỉ “phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước?”

Từ nửa thế kỷ nay ở nước ta chỉ có một tổ chức độc quyền làm báo và chuyên môn “lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước;” tổ chức đó chính là đảng Cộng Sản Việt Nam. Xin bà con trong nước và các bạn đồng nghiệp của chúng tôi hãy nghĩ kỹ xem có đúng như vậy hay không.

 

Ngô Nhân Dụng

Trích http://www.nguoi-viet.com


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com