Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

Mở mắt
 

Các cựu học sinh và giáo sư trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ, cùng các đồng hương sắp tổ chức lễ kỷ niệm cụ Phan. Ðây là một cơ hội cho chúng ta cùng suy ngẫm về một sĩ phu yêu nước người Việt, sống cùng thời với những sĩ phu Nhật Bản đã thực hiện cuộc canh tân thời Thiên Hoàng Minh Trị. Hai quốc gia cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, cùng theo đạo Phật và học sống theo nền luân lý Khổng Mạnh. Hai dân tộc đều tôn trọng những đức tính trung trực, hiếu đễ, lễ nghĩa, thành tín, vân vân. Hai quốc gia đều sống quật cường, người Việt Nam còn phải chịu nhiều phen thử thách trước nạn xâm lăng của Hán tộc nhiều hơn người Nhật. Nhưng từ giữa thế kỷ thứ 19, thời Phan Thanh Giản, lịch sử hai dân tộc đã đi sang hai nẻo khác nhau.

Phan Thanh Giản là một người Việt Nam được đi ra nước ngoài sớm nhất, khi cụ đi sứ sang Pháp, cùng với Phạm Phú Thứ và Ngụy Khác Ðản. Ba nhà ngoại giao nước ta đã sống ở Pháp vài tháng và được nhìn thấy những tiến bộ khoa học, kỹ thuật của Âu Châu thời đó. Trên chuyến hải hành dài hàng tháng, họ cũng ghé nhiều bến tàu, quan sát các thành phố đang được người Âu Châu mở ra làm nơi buôn bán. Phải nói đó là một chuyến đi mở mắt. Trong ở Paris khi chờ được hoàng đế Pháp tiếp kiến, phái đoàn được dẫn đi thăm nhiều cơ xưởng kỹ nghệ, kể cả một nhà chế súng. Ðọc lại những lời tâu của phái đoàn sau khi trở về nước chúng ta thấy các nhà Nho thiết tha muốn yêu cầu triều đình Huế thực hiện việc “đổi mới” để dân ta có thể theo kịp sự tiến bộ của người Âu Châu. Ðọc cuốn hồi ký của Phạm Phú Thứ, nay đã được dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt và ấn hành, chúng ta càng thấy rõ tâm trạng của phái đoàn Phan Thanh Giản trong chuyến đi kéo dài nửa năm trời này. Họ vẫn làm đủ bổn phận của những sứ thần đi xin chuộc lại ba tỉnh miền Ðông mà triều đình Huế đã nhường cho Pháp, tuy không thành công. Họ đã giữ được thể thống quốc gia trong cách cư xử khiến người Pháp nào gặp họ cũng phải kính trọng; họ chỉ cần theo truyền thống sống chính trực quang minh như các Nho sĩ vẫn được đào tạo từ thủa nhỏ trong “Cửa Khổng Sân Trình.” Nhưng cùng lúc đó, họ phải công nhận người “Tây Dương” đã tiến bộ rất nhiều về khoa học, kỹ thuật, kinh tế.

Ðó có thể là một lý do khiến sau đó ba năm, khi Tướng Pháp Rigault de Genouilly đem 1,000 quân tấn công thành Vĩnh Long, quan kinh lược Phan Thanh Giản đã quyết định không chống cự cho khỏi tổn hại sinh linh, vì biết không thể chống nổi. Nhưng cụ đã uống thuốc độc tự vẫn, năm đó cụ 74 tuổi. Tấm gương trung trực, khí tiết, cùng với lòng từ bi vô hạn của cụ là tấm gương sáng cho nhiều đời sau.

Tại sao đất nước chúng ta có những sĩ phu nghĩa khí ngất trời như vậy, cùng thời với vua Minh Trị bên Nhật cũng đang phải đối đầu với các thế lực Tây phương, mà dân Việt Nam không thực hiện được một cuộc canh tân như các sĩ phu nước Nhật? Từ đó đến nay, sau hơn một thế kỷ rưỡi, nước ta vẫn còn đứng vào hàng những nước nghèo nhất hoàn cầu, trong khi dân Nhật Bản có mức sống đứng hàng đầu thế giới?

Rất khó tìm được đầy đủ các nguyên nhân, nhưng có thể nêu lên một điều, là vào giữa thế kỷ thứ 19 ở Việt Nam số người đã mở mắt rất hiếm. Họ không thể giúp người khác mở mắt được, vì óc thủ cựu, kiêu căng còn tràn ngập. Ðại đa số các nhà Nho đang nắm quyền trong triều đình còn thủ cựu quá. Không những họ chưa có dịp mở mắt nhìn thấy sự tiến bộ trong văn minh kỹ thuật bên Âu Châu, Mỹ Châu, họ còn mang lòng kiêu căng, tự coi nước mình mới thực là văn minh, nếu thua chỉ thua nước Trung Hoa mà thôi, còn ngoài ra các giống dân khác là mọi rợ hết, kể cả Nhật Bản.

Khi gặp người Nhật Bản, chúng ta thường thấy họ nghiêng đầu cúi xuống khi chào khách. Những vị quản đốc ngân hàng hay xí nghiệp bị phá sản ra trước công chúng tạ tội thường cúi một nửa người để xin nhận trách nhiệm. Dù chúng ta biết trong lòng họ rất tự hào về giá trị của chính mình, nhưng trong cách cư xử họ lúc nào cũng tỏ thái độ khiêm cung đối với mọi người. Giới lãnh đạo nước Nhật vào giữa thế kỷ 19 đã sống trong tinh thần khiêm tốn như vậy khi họ quyết định phải học hỏi Tây phương về những tiến bộ kinh tế, khoa học, kỹ thuật.

Một điều may mắn cho dân tộc Nhật là đúng lúc họ phải tiếp xúc với Tây phương thì trong nước có một cuộc cách mạng lật đổ dòng họ Tokugawa, chấm dứt chế độ Sứ Quân để tập trung quyền hành về cho thiên hoàng. Nước Nhật tuy cũng học Tống Nho từ nhiều thế kỷ nhưng họ không tổ chức thi cử. Người đi học là tìm học đạo lý thứ không phải để kiếm mảnh bằng làm bậc thang danh vọng. Cho nên họ không chuộng hư danh, tránh được lối học từ chương. Những người giúp vua Minh Trị thâu lấy quyền lực cũng mang tâm trạng muốn dứt khoát với quá khứ, sẵn lòng đổi mới. Họ quyết tâm học người Âu Châu, mà muốn học được thì phải biết khiêm tốn, tự nhận là mình còn dốt. Họ đón các chuyên viên nước ngoài vào cho dân Nhật được học hỏi. Trong cùng thời gian đó, đa số quan lại trong triều đình nước ta vẫn mang lòng kiêu ngạo, tự hào về những bằng cấp do văn chương đem lại. Và lòng kiêu ngạo đã khiến người ta nhắm mắt không chịu đổi mới.

Ngày nay, hình như người Việt Nam vẫn còn mang óc tôn trọng bằng cấp giống như thời xưa. Cứ nhìn các vị mang bằng tiến sĩ, phó tiến sĩ, chức vị giáo sư, phó giáo sư, thì nghĩ là dân trí nước ta phải cao lắm. Nhiều quan chức đã lên địa vị tha hồ ra lệnh, tha hồ bòn rút rồi, vẫn tìm cách kiếm lấy mảnh bằng để in lên danh thiếp. Giống như thế kỷ 19 người ta chạy lấy những tước vị ông Ấm, ông Hàn để thêm danh giá. Ngoài những mảnh bằng do nhà trường cung cấp, người ta còn coi tất cả những thứ giấy chứng nhận của nhà nước là “bằng” nữa. Một gia đình có con em chết trận thì treo “bằng liệt sĩ” lên tường. Cái bằng trước đây được nhiều người chạy chọt là bằng “đảng viên,” vì có cái bằng này là tương lai được bảo đảm. Bên cạnh thói chuộng hư danh ngày nay vẫn tồn tại, lòng kiêu căng hão cũng là một tệ nạn của nước ta đến thời nay vẫn chưa bỏ được. Trong một cuốn phim của Trần Văn Thủy, trước đây 20 năm, nhà đạo diễn đã để một phóng viên hỏi một em bé đang ngồi viết khẩu hiệu có hai chữ “Vĩ Ðại” mà hỏi em bé rằng trong đời các em đã bao giờ thấy cái gì “Vĩ Ðại” thật hay chưa. Chú bé bẽn lẽn lắc đầu.

Trong nước hiện nay, những người cầm quyền không còn hô hào những chữ Vĩ Ðại nữa, nhưng trong các bài diễn văn của họ vẫn đầy những từ hoa mỹ và trống rỗng. Cái tánh hô khẩu hiệu quen lâu ngày rồi, không bỏ được. Nhưng khi bám lấy những “thành tích” trống rỗng chỉ thấy trên giấy như vậy, người ta sẽ tự che mắt mình, không còn giữ được tính khiêm cung nữa. Nhất là khi thấy ai phê phán, chỉ ra một nhược điểm của mình thì phản ứng tự nhiên không phải là tự xét xem mình có khiếm khuyết đó hay không để mà sửa đổi. Ngược lại, chỉ là tìm cách chối cãi, chạy tội, hoặc là quay sang chỉ trích người phê bình mình, để chứng tỏ họ cũng có khi phạm lỗi như mình. Rõ ràng là một cái thói trẻ con, chưa trưởng thành. Và chắc chắn không thể mở tâm trí ra mà học hỏi, không thể mở mắt ra được.

Tính kiêu căng trống rỗng này ăn sâu trong đầu giới lãnh đạo, lây sang đến người dân thường, ngay cả những người có học, khi người ta suy nghĩ về chính trị. Khi thấy một đại biểu Quốc Hội Mỹ lên tiếng yêu cầu chính quyền Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền chẳng hạn, thì nhiều người phản ứng nói rằng thế nước Mỹ có tôn trọng nhân quyền hay không? Tại sao người Mỹ đã chấp nhận chế độ nô lệ bao nhiêu năm? Người Mỹ biết gì về nước Việt Nam mà đòi tới đây làm thầy đời?

Giống như vụ đại sứ Mỹ ở Hà Nội mời các bà là mẹ hoặc vợ của các nhà tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam đến nhà riêng, gặp nữ dân biểu Hạ Viện Mỹ qua thăm. Họ bị công an đến tận nhà cấm đoán, không được thì cản đường, không được thì theo đến tận trước cửa lôi đi. Trước mặt cả thế giới.

Không hiểu cái đảng “đỉnh cao trí tuệ” nó thế nào mà sợ mấy phụ nữ chân yếu tay mềm như vậy? Các bà mẹ, bà vợ đó thì làm gì được để chống lại chế độ, ngoài việc kể những chuyện thật về cuộc đời của chồng, của con họ? Bà Loretta Sanchez có nghe hết chuyện rồi về kể Mỹ kể lại, thì liệu ông Tổng Thống Bush có nghe hay không? Không hiểu sao họ cuống lên như thế?

Nhưng họ vẫn tìm cách chỉ trích bà Loretta Sanchez. Họ hỏi, hai vợ chồng ông Bill Gates sang thăm Việt Nam làm việc thiện, họ đâu có đi tìm thân nhân những người tranh đấu dân chủ, tại sao bà Loretta Sanchez không bắt chước hai vợ chồng này?

Lý luận đúng là kiểu trẻ con. Mỗi người một việc, người đi làm việc thiện thì đến viếng nhà thương, người hành hương thì đi lễ chùa, còn nhà chính trị họ đi tìm hiểu về tình hình chính trị. Thế mà không biết, vẫn cứ đem ra hỏi. Một câu hỏi như thế cho thấy hai điều. Một là không dám nhìn sự thực, hễ thấy ai tìm hiểu về mọ điều xấu xa trong chế độ của mình (đàn áp người có ý kiến đối lập) thì tìm cách chê bai người ta, chê bất cứ điều gì có thể nghĩ ra được, để lấp liếm, che đậy. Ðó là một thói trẻ con. Thứ hai là cái óc bần tiện, nghĩ rằng người ngoại quốc đến nước mình đem tiền cho thì quý hóa, còn đem những ý kiến mới mẻ đến thì sợ hãi, nhất là các ý kiến đòi dân chủ, tự do. Sợ, nhưng không dám nói, mà vẫn làm bộ “ta đây không cần!” Vẫn tự hào là “dân chủ xã hội chủ nghĩa” hơn gấp vạn lần dân chủ tư sản!

Các bà khách của ông đại sứ Mỹ, bà mẹ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, bà Phạm Hồng Sơn, bà Nguyễn Vũ Bình, chắc đã sống quen trong cảnh bị đàn áp, chắc họ không có dịp gặp các dân biểu Mỹ, ra về họ cũng chỉ cười thôi. Hình ảnh bọn khuyển ưng của chế độ đe dọa, lôi kéo các phụ nữ ngay trước công chúng sẽ được ghi thêm vào lịch sử cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam. Không khác gì hình ảnh bàn tay bịt miệng Linh Mục Lý trong phiên tòa.

Nhưng chúng ta sẽ không thể cười được, khi nghĩ tới tương lai đất nước. Hơn 150 năm kể từ thời Phan Thanh Giản tuẫn tiết, người Việt Nam mới bắt đầu học lối sinh hoạt kinh tế mới, gọi là kinh tế thị trường. Ðó là một định chế của nền văn minh Tây phương, nó đã trải qua bao nhiêu chuyển biến suốt mấy thế kỷ. Nhưng nhà nước cộng sản Việt Nam chỉ thu nhập cái bỏ bên ngoài của định chế đó. Còn nền tảng của kinh tế thị trường là định chế chính trị dân chủ tự do, thì họ vẫn không chịu mở cửa cho dân Việt Nam được hưởng. Không có tự do thì sự phát triển sẽ đến lúc ngưng trệ, những cuộc nghiên cứu thực tế đã cho thấy như vậy. Từ giữa thế kỷ 19 đến nay, dân Việt Nam đã mở mắt, nhưng chỉ được mở một mắt. Ðến bao giờ dân ta mới được mở hai mắt?

Ngô Nhân Dụng

Trích: http://www.nguoi-viet.com

 


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com