Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

Chánh Sách Của Việt Cộng Qua Hành Động Và Ngôn-Từ

Thanh-Thủy

Xin trích một đoạn văn trong quyễn La  Mort Du Vietnam của Đại tướng Pháp Vanuxem, bản dịch của Đại tá Dương Hiếu Nghĩa với tựa đề Nước Việt Nam Cộng Hòa Bị Bức Tử, trang 49-50 như sau: “Dân chúng Miền Nam không bao giờ “nhờ” hay “kêu gọi” người lính Bắc Việt đến giải phóng cho họ. Do vậy mà anh bộ đội Miền Bắc vào Nam không sống trong tình “quân dân cá nước” được. Hay nói cách khác là “không có nước để cho con cá sống”. Mặc dầu họ cố hết sức ve vãn, khuyến khích nhưng chưa thấy được một sự hội nhập nào của dân chúng, nên họ bắt buộc phải có hành động cưỡng chế người dân, coi dân như kẻ thù của thuở trước”.

Nhận xét trên đây của Đ/tướng Vanuxem, một vị tướng Pháp duy nhứt còn ở lại Saigon sau ngày 30/4/75 vài ngày trước khi bị trục xuất. Thật sự thì Việt Cộng không có ve vãn hay khuyến khích gì cả, sau khi họ thôn tính trọn miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, những người cán bộ và bộ đội miền Bắc hăm hở vào Saigon với thái độ kiêu căng và ngạo mạn của kẻ chiến thắng, cho nên, cung cách ăn nói của họ bao giờ cũng xấc xược với giọng kẻ cả thì làm gì có chuyện quân dân cá nước được. Ngay cả những người miền Nam đi tập kết ra Bắc năm 1954 cũng thế, nay trở về phát âm với giọng nói lơ lớ nửa mùa, Nam chẳng ra Nam mà Bắc chẳng ra Bắc, dùng những danh từ không biết được du nhập từ đâu nghe rất lạ, vừa sắt máu vừa khó hiểu.

Cũng trong quyễn La Mort Du Vietnam của Đại Tướng Vanuxem, trang 106-107, có trích dẫn như sau: “ Bác sĩ Vincent d’Athis Mons, người Việt 100% có quốc tịch Pháp, thuộc đoàn “Bác Sĩ Không Biên Giới” trong Phái Bộ Y Tế do nước Pháp gởi sang Việt Nam, nên ý kiến rất là tự do và trung thực. Không cần biết đầu óc ông ta nghĩ như thế nào trước đó, khi mà tất cả phái bộ của ông được khoản đãi linh đình ở Paris ngày 13/4/75, trước khi rời nước Pháp để sang Việt Nam, do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tổ chức. Mặt Trận đã khuyên ông không nên bắt liên lạc với Sài Gòn và hãy tạm nằm ở Vũng Tàu chờ “quân giải phóng”. Phái bộ nghe theo lời MTGPMN, không vào Sài Gòn mà ra nằm chờ ở Vũng Tàu, thuốc men và dụng cụ y khoa được tạm gởi vào một bệnh viện dân sự của Việt Nam Cộng Hòa. Có vài cuộc pháo kích vào thị xã, và người ta mang lại khoản 80 người bị thương vừa thường dân vừa lính Nhảy Dù. Họ săn sóc cho những người nầy.

Đến lượt những người man rợ đến, có lẽ chưa có chỉ thị của cấp trên, nên họ ra lệnh ngưng tất cả mọi công tác và ý định chữa trị cho những người bị thương nói trên. Rồi một toán khác lại đến, những người nầy có vẻ hiểu biết hơn, nhưng ra lệnh buộc tất cả phải rời khỏi bệnh viện nầy, vì họ đang cần dùng. Vì các “Bác Sĩ Không Biên Giới” không biết phải đưa những người bị thương mà họ đang chữa trị đi đâu, nên họ từ chối lệnh nầy. Tức thì một người chỉ huy toán “giải phóng quân” nói với bác sĩ Vincent rằng: “Đây rồi chúng tôi đã có cách”. Nói xong ông ta rút súng ngắn ra, kê vào đầu một người bị thương cạnh đó, và bóp cò. Bác sĩ Vincent phản đối. Người ta lôi ông ra chổ khác…và rồi, ông nghe nhiều tiếng súng lục nổ…Đến lúc súng hết nổ thì bệnh viện đã trống, sẵn sàng cho “giải phóng quân” sử dụng!”

Trong thời gian đầu, những chuyện khủng bố dằn mặt dân chúng vẫn xãy ra thường ngày, ở chợ trời Trần Quốc Toản, nơi chuyên bán đồ phụ tùng xe đạp thuộc quận 10 Saigon, một người đàn ông vì không có sạp, tay xách một mớ hàng, nào là ruột xe, căm, sên, giò dĩa, cổ mang niềng, vỏ xe đi bán dạo. Bán như vậy là “buôn lậu” theo quy định của công an, bộ đội. Chẳng may cho anh, gặp một tên bộ đội đi tuần tiểu quanh chợ kêu lại. Kinh nghiệm của dân đen ở đây là nếu đứng lại thì tất cả đồ đạt sẽ bị tịch thâu và còn phải ngủ bót hoặc đi cải tạo thì gia đình, vợ con bị đói, nên người đàn ông kia bỏ chạy, tên bộ đội quơ súng bắn, người đàn ông chết ngay lập tức.

Tên bộ đội thản nhiên đến lục soát, tịch thâu tất cả mọi thứ và ghim trên ngực áo người đàn ông mấy chữ viết tay ngoặc ngoẹo:” Tên Cướp Phản Động”, trước sự chứng kiến và bất mãn của rất đông người, nhưng không ai dám lên tiếng.

Vài hôm sau, người ta vẫn thấy tên bộ đội với sắc mặt hung bạo vẫn đi tuần tiểu như thường lệ, như không có chuyện gì xãy ra, chỉ cần ghim bốn chữ “Tên Cướp Phản Động” lên ngực người chết là tên bộ đội đó đã lập công với “Cách mạng” rồi. Những chuyện nhan nhảng như vậy thì làm sao mà có chuyện “Dân quân cá nước”.

Trong bài viết nầy, chúng tôi không đề cập sâu đến chánh sách khủng bố mà họ đem ra đàn áp người miền Nam mà chúng tôi chỉ muốn đơn cử một vài thí dụ về ngôn ngữ mà họ thường dùng, tuy chỉ là những ngôn ngữ, nhưng nó cũng biểu lộ được đặc tính văn hóa nô dịch và chánh sách cai trị khắc nghiệt của tập đoàn Cộng sản Hà-nội.

Xin được dẫn chứng một vài thí dụ về những danh từ mà những người Cộng sản miền Bắc mang vào trong Nam, và được sử dụng cho đến ngày nay:

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, tất cả báo chí và những cơ quan truyền thông tư nhân đều bị đóng cửa chỉ trừ báo chí, đài phát thanh và đài truyền hình của đảng CSVN, cho nên, chữ nghĩa họ dùng, bắt buộc người miền Nam phải ráng mà theo, tức là phải phục tùng, phải hội nhập vào họ một cách tuyệt đối từ tư tưởng cho đến lời ăn tiếng nói.

Bức màn sắt được họ buông xuống, những thông tin, liên lạc giữa Việt nam và bên ngoài hoàn toàn đứt đoạn. Thời gian đầu, người miền Nam điên đầu với lối phiên âm tiếng ngoại quốc của họ. Ví dụ như chữ: Nước Ắc-Hen-Ti-Na, nước Lai-Xích (không biết nước nào?), v.v…và sau đây là một số danh từ tiêu biểu mà họ thường dùng:

1.- Cụm từ: chỉ một nhóm chữ, một số câu mà người viết muốn đề cập đến. Đọc chữ nầy, người đọc liên tưởng đến những tiếng như: Cụm Tình-Báo, Cụm Giao-Liên…Khi đọc lên là cảm thấy có vẻ sắt máu, không phải là bản chất văn hóa của người Việt-nam. Miền Nam trước năm 1975, không thấy chữ nầy bất cứ ở đâu, cả trong sách vở hay trong giới bình-dân. Khi đề cập đến vấn đề nầy, người Miền Nam dùng chữ: Đoạn Văn hay Từ Ngữ. Ví dụ như: Đoạn văn nầy hay, Từ ngữ nầy không đúng, v.v…nghe nó hiền hòa, khác hẳn với chữ Cụm Từ sắt máu của Việt-Cộng.

2.- Xưỡng Đẻ: Sau năm 1975, người dân Miền Nam rất ngỡ-ngàng khi thấy những Nhà Bảo-Sanh bị đổi tên là Xưỡng Đẻ. Xưỡng là nơi chế-tạo, sửa chữa vật dụng, là nhà máy sản xuất đồ dùng, ví dụ như Xưỡng May sản xuất quần áo, xưỡng đóng tàu, xưỡng đóng giày , xưỡng đúc súng đạn, xưỡng cơ-khí, v.v…chỉ thuần dùng cho vật dụng chớ không bao giờ dùng cho con người. Còn Nhà Bảo Sanh là nơi bảo-vệ cho sự sanh sản của phụ nữ được tốt đẹp, được “mẹ tròn, con vuông”, hàm ý bảo vệ, chăm sóc cho sự sanh nở được suông sẻ theo như quy-luật của tạo-hóa dành cho con người. Dùng danh từ Xưỡng đẻ là xem người phụ nữ như là những cái máy sản-xuất, hài nhi chính là vật dụng, cho nên, đối với Việt-Cộng, con người chỉ là vật dụng dùng để cho đảng CS sai-khiến, không hơn, không kém. Chính vì vậy, trong chiến-tranh, đảng Cộng sản không xem quan-trọng về thiệt hại nhân mạng, chết bao nhiêu cũng được miễn sao đảng CS đạt được một số nhu-cầu nào đó là được. Do đó, họ không ngần ngại dùng chiến-thuật biển người, lớp nầy chết, họ xua lớp khác lên cho đến khi nào tan nát hết hàng quân mới chịu thôi. Là quân nhân QLVNCH, không ai là không biết điều nầy. Quan-niệm về con người của người Cộng-sản là như thế, bởi vậy cho nên họ xúi giục nào là con tố cha, vợ tố chồng, xuất cảng phụ-nữ, trẻ em  tuổi vị thành niên trong những đường dây nô-lệ tình dục…miễn sao đảng vơ-vét cho được đầy túi tham. Luân lý, đạo đức không là gì cả đối với người Cộng sản. Bởi thế mà có lần Mao-Trạch-Đông tuyên bố, nếu cần xãy ra chiến tranh nguyên tử, người dân Trung-Hoa có phải hy sinh hai trăm triệu người là việc rất bình thường, không có gì phải bận tâm.

Ai còn tin vào những lời đường mật của người Cộng-sản, xin hãy suy ngẫm, chỉ tiêng về việc so sánh danh từ Xưỡng Đẻ của Cộng sản Hà nội và Nhà Bảo-Sanh của người miền Nam trước năm 1975, ta cũng đủ thấy sự khác biệt giữa hai nguyên-lý về nhân-sinh là như thế nào rồi.

3.- Bóng Đá: là một môn thể-thao được ưa-chuộng nhứt thế giới, với kỹ-thuật dùng chân để đá trái banh (quả bóng). Người miền Nam, trên sách báo gọi là Túc Cầu, người bình dân gọi là Đá Banh, tức là đá trái banh, dùng tiếng Việt, đúng văn phạm Việt. Bóng đá cũng là tiếng Việt, nhưng đão lộn chữ dùng theo văn phạm Tàu. Đủ cho thấy một sự nô-lệ Tàu tự nguyện của những người Cộng sản VN là như thế nào. Ngay cả chữ Túc-Cầu của người miền Nam, tuy là chữ hán-việt, nhưng vẫn nghe thanh-lịch hơn nhiều so với chữ bóng đá của người Cộng-sản Hà nội vừa cứng, vừa thô-lỗ như bản tánh của họ vậy.

4.- Sự cố: có nghĩa là trở ngại, như trở ngại kỹ thuật, họ nói là Sự Cố kỹ thuật, không biết chữ nầy họ lấy ở đâu ra?

5.- Hiện đại: có nghĩa là tân tiến,  Sơ tán là di tản, Chém vè là rút chạy,  Phản ánh là phản ảnh, Tấu hài là hài kịch, Đăng ký là ghi danh, Động não là suy nghĩ, v.v… Nói cho cùng, những người tự nhận là có công “Giải phóng Miền Nam”, không bao giờ muốn dùng những từ ngữ của người miền Nam mà họ tuyên truyền là ngôn-ngữ của một thứ văn-hóa đồi trụy, kể cả những người miền Nam tập kết ra Bắc năm1954. Điều nầy cho thấy người Cộng sản chỉ muốn cưỡng chế chớ không bao giờ muốn hội nhập với người miền Nam và mĩa thay thay, chữ nghĩa của người miền Nam vốn văn hoa, êm dịu, biểu lộ một nền văn hóa cởi mở, hài hòa của dân tộc, nhưng vì không muốn hội nhập và muốn cưỡng chế, cho nên người miền Bắc cố tình thay hình đổi dạng chữ nghĩa của người miền Nam, cho nên ngôn từ của họ trở thành thô lỗ, phản ảnh bản chất của người Cộng sản, lúc nào cũng ngạo mạn, xấc xược và sắt máu.

6.- Họ nói: đảng ta, nước ta, dân ta. Chữ Ta ở đây là người Cộng sản,là thứ gì của riêng họ, là những người đã được nhồi sọ, đã được thuần thục lý thuyết Cộng sản, đã chịu cuối đầu, khuất phục theo mệnh lệnh của họ chớ không phải là nhân dân miền Nam vừa mới bị họ cưỡng chiếm.

7.- Nhân dân: Khắp mọi nơi chúng ta đều thấy chữ Nhân Dân, ví dụ như Ủy Ban Nhân Dân, Tòa Án Nhân Dân, Họp Tác Xã Nhân Dân, v.v... Vâng, có nghĩa là mọi thứ trong nước đều là của nhân dân, vì là của nhân dân nên nhân dân phải lao động, làm việc cho chính mình để tạo ra của cải, vật chất cho mình, nên mới có biểu ngữ để nhắc nhỡ : « Lao động là vinh quang », làm việc bất kễ giờ  giấc, nên trong dân gian có những câu mĩa mai chuyền miệng:

«  Làm ngày không đủ,

Tranh thủ làm đêm

Làm thêm ngày nghĩ,

Làm tối mặt mày,

Làm đui con mắt “

Tất cả mọi tài sản quốc gia, kễ cả của cải, vật chất, ruộng lúa, nhà máy, cơ xưỡng đều là của nhân dân, nhân dân làm việc chết bỏ để tạo nên của cải, vật chất, nhưng tất cả của cải, vật chất đó phải được Nhà Nước Quản Lý, và đảng Lãnh Đạo.Vì nhà nước quản lý nên nhân dân không được rờ tới, chỉ được phân phối theo tiêu chuẫn “chết đói” do nhà nước qui định, và vì đảng lãnh đạo nên đảng tự chia chác với nhau, đặc quyền, đặc lợi. Trong những “tài sản chung”, chỉ riêng có Ngân Hàng là không có chữ nhân dân trong đó vì ngân hàng là nơi giử tiền, người dân không ai được quyền biết đến, bảng viết rõ ràng: Ngân Hàng Nhà Nước.

Bởi vậy, sau hơn 20 năm cầm quyền, hầu hết giới lãnh đạo, từ những anh khố rách, áo ôm, vào Nam với cái nón cối của thực dân Pháp và đôi dép râu, hai bàn tay trắng, đã nhanh chóng trở thành những tên tư bản đỏ, những tên tỷ phú, còn nhân dân thì vẫn tiếp tục đói rách, nhà đất bị tịch thâu, mở miệng kêu than thì bị tù đài, lên tiếng tranh đấu đòi quyền sống thì bị kết tội “Phản động”. Mấy câu chuyền miệng sau đây cho thấy thực trạng trong nước bi đát cở nào!:

« Lao động là vinh quang,

Lang thang là chết đói,

Hay nói là ở tù

Lù khù là mất mạng »

Trên đây chỉ là những dẫn chứng rất nhỏ nhoi để nói lên cái bản chất phi nhân của người Cộng sản, đặc biệt là người Cộng sản Việt Nam. Cho đến đầu thế kỹ 21, trên 30 năm cầm quyền, sự tham nhũng trong nước đã trở thành quốc sách, đã có gốc rễ lên tận đĩnh đầu của mọi từng lớp đảng viên có thế lực. Mỗi lần đại hội đảng, nhóm nào lên cầm quyền cũng đều lên tiếng trấn an là diệt trừ tham nhũng, nhưng càng hô hào chống tham nhũng thì tham nhũng càng lộng hành từ những tên công an hạng bét, những nhân viên cửa quyền, những cửa khẩu phi trường, hải quan cho đến những đường dây buôn lậu, xuất cảng trẻ em, phụ nữ cho những môi giới tình dục của những nhân vật cao cấp, song song đó là việc đảng Cộng sản bán đất, bán biển cho Tàu trong đó có hải đảo Trường sa và Hoàng sa, nơi có nhiều tài nguyên quốc gia về dầu hỏa.

Có một điều đáng lo và cũng đáng buồn là về phía Người Việt Quốc Gia, cho đến nay, vẫn có một số người dùng những ngôn từ Cộng sản nhan nhản trong các văn bản của họ. Không hiểu do sự cố tình hay đã vô tình bị chìm vào trong màn « Thiên La Địa Võng » của những kẻ phản dân hại nước?

Lịch sử đất nước Việt Nam chưa bao giờ bị ô nhục tồi tệ và có những người cầm vận mạng quốc gia  bạc nhược trầm trọng đến như thế.

Thanh-Thủy (16/3/2007)  

 


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com