Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

Phong trào Đòi trả tên Saigon với ý thức giá trị cuả một Đại hội chính trị 

Lê Hùng Bruxelles

Đại hội nói chung, thường được hiểu là tập họp nhiều người để đưa ra những quyết định trước một vấn đề trên nhiều bình diện thuộc văn hoá, văn minh, kinh tế, chính trị… trong xã hội. Khác với những cuộc Hội thảo là mục đích thu thập lý luận liên miên, kiểu « lùng tùng xèng », chung quanh những đề tài cuả nhiều vị trí thức giàu óc tưởng tượng, để sau đó những dự thảo viên, khi ra về, mang theo những bộ óc đầy ý nghĩ lơ mơ, đầu không đến đầu và đuôi chẳng đến đuôi. Đây là kiểu ăn cắp những buổi hội thảo mà mỗi năm tại các nước Tây phương có tên gọi « Đại học Hè ». Bài nầy, nhân kỳ Đại hội Phong trào đòi trả tên Saigon, tại Paris, người viết chỉ bàn về đại hội nầy trên bình diện chính trị.

Hơn tháng nay, qua internet nói về Đại hội  « Phong trào đòi tên Saigon », tôi đã hình dung trước những khuôn mặt cuả người Việt trên thế giới sẽ vượt không gian tụ họp về Pairs và vài thủ đô các nước lân cận, mà không khỏi xúc động để nói ra cảm tưởng cuả mình : « Một xao xuyến và vui mừng lẫn lộn cuả tôi đối với Đại hội ». Trước hết tôi trân trọng gửi đến Đại hội lời chào mừng thân thiết nhất, và tiếp theo tôi xin được lưu phát bài viết sau đây đến trước quý Vị.

Trong lịch sử nhân loại, thể tính (état pur) cuả chính trị đã thoát sinh từ tư tưởng thời cỗ La Hy, nhất là từ thời Platon và Aristote, với dụng ý tìm cho ra nguyên căn những vật thể cộng sinh tạo ra tính thể (état ontologique) con người đoàn lũ, tức là những con vật biết dùng tiếng nói quyết định tác sinh ra một « thị tứ tính thể » (corps ontologique). Công việc đó nói theo nôm na hôm nay là chính trị. Như vậy chính trị là cuộc đi tìm lại nguyên bản vị tính thể quê hương. Xin hảy trả tính thể cuả quê hương lại cho quê hương cũng như xin trả tên Saigon lại cho Saigon.

Trong bài viết nầy, tôi tránh diễn giải chiến thuật và chiến lược cai trị, mà chỉ nêu tóm tắt vài tình trạng chỉnh xác đã xẩy ra trong 2 năm gần đây, có liên quan trong sự đấu tranh giữa Việt cộng trong nước và cộng đồng người Việt tại hải ngoại, hầu góp phần vào Đại hội một cái nhìn thực tiễn, để tìm ra những chiến thuật giá trị cấp thời và những chiến lược lâu dài mà « Phong trào đòi trả tên Saigon » đang cỗ xuý thực hiện.

Nhìn sâu vào tình trạng Việt nam

a) Trí thức. Lớp trí thức đã dấy lên những phong trào chính trị như Nhóm 8406, Đảng Thăng tiến, Phong trào sinh viên Cần thơ, Phong trào công nông, Công đoàn độc lập, đã và đang phục hoạt ngay trong nước. Hàng loạt những bài phát biểu chánh kiến của những nhà đấu tranh cho Nhân quyền, Dân quyền, Dân chủ được tung ra... Hàng vạn chữ ký, hàng ngàn người hưởng ứng đã đứng ra đòi Việt cộng hãy trả quyền phát biểu, quyền ngôn luận, quyền tư tưởng, quyền tín ngưỡng lại cho người Dân. Nói khác, toàn dân đang chờ đợi sự tiếp tay cuả thành phần yêu chuộng Tự do , Dân chủ và Nhân quyền trên thế giới tiếp tay trong thế đấu tranh đối diện với chế độ Việt cộng, với tinh thần không khoan nhượng.

b) Du sinh. Một số sinh viên của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang du học tại hải ngoại, đã đồng loạt đứng lên thành lập một Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ, liên kết với các lực lượng sinh viên thanh niên trong và ngoài nước, công khai tranh đấu đòi Dân chủ hóa Việt Nam sớm, hầu mong đem lại sự giàu mạnh cho đất nước. Tập hợp Thanh niên Dân chủ đã phối hợp với sinh viên Hà nội và Cần thơ rải truyền đơn và dán bích chương hô hào dân chúng tẩy chay cuộc bầu cử 5/07 sắp tới. Hiện tượng nầy xác nhận lớp trí thức thanh niên Việt nam đã thấy rỏ tình trạng nhân dân nghèo đói vì áp bức, và cục bộ toàn quốc trên Đất nước đã tụt hậu chỉ vì chính sách bưng bít cuả chế độ Việt cộng.Tiếng nói phản bác cuả du sinh là chứng cớ hùng hồn chính sách đào tạo mầm non trí thức tương lai cuả Việt cộng hoàn toàn thất bại.

c) Công nhân. Ý thức công nhân đã lên cao. Từ năm 2006 đến nay,  trong nước đã diễn ra những cuộc biểu tình kéo dài cả tháng của hàng ngàn công nhân tại các xí nghiệp tư nhân, và xí nghiệp nhà nước (từ Nam ra đến Bắc). Quả thật là một tình trạng không bao giờ có thể xẩy ra dưới chế độ cộng sản. Gần đây có tin Việt cộng cho giải tán công đoàn, vì công nhân đã đứng lên chống đối việc công đoàn đứng ra bênh vực quyền lợi cho những chủ nhân ngoại quốc. Chính quyền đàn áp công nhân lao động và kể đến nay đã có trên 500 người biệt tin !. Trong tuần qua có tin một lãnh tụ Công đoàn Độc lập trốn sang Cao miên xin tỵ nạn cộng sản. Những hiện tượng nầy cho mọi người biết rằng số đông nhân dân trong nước đã ý thức thế nào là dân chủ tự do, thế nào là cộng sản độc tài và chế độ cộng sản đang theo đà đi xuống dốc.

d) Tôn giáo. Các tôn giáo tuy có quần chúng âm ỉ chống đối chế độ Việt cộng, nhưng lại bị chi phối bởi khối lảnh đạo, phần thì cố đấm ăn xôi, phần thì làm tay sai cho chính quyền, nên đã chia rẻ trầm trọng. Nhà thờ Công giáo nói là đã được mở cửa, nhưng mọi việc phải xin phép chính quyền. Các vị Giám mục cai quản địa phận lại phải nằm dưới quyền quan sát cuả những linh mục « nằm vùng ». Hội đồng Giám mục Việt nam không một tiếng nói trong việc công an đến nhà chung lôi trì một ông linh mục đem đi trị tội và nay biệt tích. Đây là một sự kiện rất đau lòng cho đông đảo con chiên tín hữu, nhưng cũng là thước đo hữu hiệu nhất cuả những người công giáo tại hải ngoại trước sự hiện diện một số Giám mục từ trong nước ra hải ngoại về sau nấy. Tóm lại, Hội đồng Giám mục Công giáo Việt nam toàn quốc trong những ngày gần đây cho mọi người thấy Việt cộng đã chi phối hoàn toàn và vì thế, đã làm mất lòng tin cuả số đông con chiên tín hữu. Phía Phật giáo chính thống thì đã bị khối Phật giáo quốc doanh núp bóng chính quyền áp đão từ lâu, nay lại còn bị nhóm Bụt tại hải ngoại về chi phối, nên chưa tìm ra được một lối đi thông thoáng. Còn lại các tôn giáo khác thì Việt cộng hoặc đã mua chuộc hoặc đã ra tay đánh nát như tương. Nhưng đây sẽ là trái bom nỗ chậm và đến khi nỗ thì rất khốc liệt. 

e) Đảng viên. Não trạng đảng viên đang lung lay tận gốc thực sự. Nhất là từ ngày có lệnh cho phép đảng viên làm kinh tế thị trường đã tạo ra một lớp người mới gọi là lớp tập sự tư bản đỏ. Vì là tập sự, nên tư chất bần cố nông tự nhiên tan biến khi nào mà không hay biết. Từ đây, vì cuộc sống tiện nghi vật chất quá chênh lệch giữa đảng viên ắt phải xẩy ra những cuộc xô xát trong nội bộ. Hiện tại chỉ còn một số ít đảng viên trong các khu vực « kiếm ăn béo bở » còn bám vào đảng mà thôi. Sự kiện nầy, báo trước cho mọi người thấy rỏ tương lai đảng đang biến chất, suy yếu và ngày tan rã sẽ không bao xa. Trong lực lượng quân đội và công an cũng chỉ còn vài cấp chỉ huy cao cấp nắm thương vụ kinh tế, chứ thật ra sự trung thành với đảng cuả cấp thừa hành đã giảm thiếu nhiều. Hiện tượng các cấp lãnh đạo cao cấp đang tìm cách rữa tiền tại ngoại quốc hay mua khố phiếu ngày càng nhiều. Những vụ việc công an không quá hống hách với những người phụ nữ cho thấy khí thế đấu tranh cuả quần chúng ngày càng đông và càng mạnh.Trong quốc hội đã manh nha tiếng nói lương tâm nhiều đại biểu biết nhìn hướng đi đất nước, đòi hỏi thực thi một nền pháp trị độc lập. Nói khác, sự nghi ngờ cuả đảng viên đối với đảng ngày càng hiễn hiện trước mắt.

f) Lực lượng tiềm ẫn. Tuy ý thức quần chúng đã chuyễn mạnh, và đã có nhiều tiếng nói đấu tranh cuả các phong trào, đảng phái, sinh viên, công nhân, thợ thuyển lao động đòi hỏi Việt cộng trả quyền người dân lại cho người dân, vẫn thấy còn lẻ loi, vì đấy là phong trào được dẫn dắt bởi giới sĩ phu trí thức. Lực lượng sinh viên trí thức nồng cốt và lực lượng công nhân cốt cán đủ khả năng để chủ động các cuộc đình công chưa có mặt. Nhưng tại trong nước chưa có một Công đoàn Độc lập nào bảo vệ quyền lợi công nhân như ở Ba lan, nên không có một sức mạnh cụ thể để đối thoại với chủ nhân hay trao đổi với các lực lượng công nhân thế giới. Kết quả hôm nay là các phong trào tại quốc nội đã bị trấn áp dể dàng. Nhất là việc Đảng đã thanh lọc danh sách một số đông ứng viên đại biểu độc lập công khai đệ đơn ứng cử. Vì vậy, mọi cuộc tranh đấu hôm nay chỉ còn cách nhìn vào sức lực cộng đồng người Việt hải ngoại, nên khai thác thế nào để làm hậu thuẫn cho các lực lượng trong nưóc được phát động công khai.

Địa lợi đấu tranh cuả cộng đồng hải ngoại

a)Chuyễn hướng thông tin. Sau những cuộc bắt bớ trấn áp trong nước vừa qua, giới trí thức tại hải ngoại đã bén nhạy trước đà hụt hẫng cuả chế độ Việt cộng. Chuyện thực tế là chúng ta trong thời gian rất gần đây, khi theo dỏi sách báo và các website internet hằng ngày trong cộng đồng Việt nam tại hải ngoại, đã thấy có một sự chuyễn hướng mạnh. Các đảng phái chính trị đang tìm cách kết hợp nhau sau vụ xử án linh mục Nguyẽn văn Lý và các nhà chống đối trong nước. Một số báo chí tôn giáo lớn tai Âu châu có lập trường rỏ ràng hơn trước gấp bội. Các chủ nhiệm đã dành cho nhiều mục phát biểu nói về lập trường chống việc Việt cộng đang dang tay đán áp tôn giáo. Một vài chủ biên các trang Website bớt đối đầu « la thét » nhau, và mọi người có cảm tưởng hình như các giám đốc Website đang cố mở đường vận động một sự đồng nhất truyền thông tại hải ngoại. Kế hoạch về sức truyền thông qua văn hoá  là một kế hoạch khó nhất, vì nó rất dể gây ra nhiều tình trạng bất an trong cộng đồng. Những chiêu bài văn hoá Việt cộng là chất át xít làm cho sắt rỉ mà nhiều khi các giới lãnh đạo trẻ chưa kinh nghiệm sẻ bị mắc mưu. Nếu vấn đề truyền thông cứ diễn tiến theo hướng kết hợp nầy thì chăc chắn khí thế đấu tranh càng mau mạnh.

b)Vận động hành lang. Cộng đồng hải ngoại hôm nay đã có một lối tranh đấu rất đúng đắn và văn minh. Những cuộc biểu tình đã có tính trước tính sau, tuy ôn hoà nhưng khá quyết liệt. Lối tranh đấu vận động hành lang cuả cộng đồng hải ngoại đã đặt Việt cộng vào thế rất ư là khó xữ. Những vụ Việt cộng phải trả về Mỹ những công dân Mỹ gốc Việt và gần đây vụ Lý Tống là chứng minh hùng hốn một thế ngoại giao chính quyền trong nước đang đà xuống dốc. Thế nhưng cộng đồng hải ngoại đang còn vướng mắc bởi chính sách « tổng quát » cuả chính quyền TT Bush, nên các vụ khủng bố đàn áp dân chủ và nhân quyền trong nước chưa giải quyết được cách chóng vén. Vì vậy, các cuộc trấn áp các lực lượng đấu tranh dân chủ trong nước còn kéo dài từ nay cho đến sau ngày bầu cử Quốc hội Việt cộng. Điều mà ông thứ trưởng ngoại giao Mỹ cho biết việc Nhân quyền tại Việt nam sẻ giải quyết vào lúc ông Chủ tịch Nguyễn minh Triết sang thăm Hoa kỳ, (nghĩa là sau ngày bầu cử Quốc hội Việt cộng). Nhưng không ngờ tinh thần cuả người dân trong và ngoài nước (kể cả người ngoại quốc) đã làm cho thế giới biết rỏ hiện tại Việt nam cộng sản không có Tự do Tôn giáo, Dân chủ và Nhân quyền.

c) Thị trường kinh tế. Trước khi được vào thị trường chung quốc tế WTO, chính Việt cộng cũng biết Việt nam không thể theo kiểu đỉnh cao trí tuệ chủ nghĩa xã hội nữa, nghĩa là không thể nào tự tạo ra một thị trường riêng biệt theo ý Việt cộng. Bởi lẽ thị trường chung là thị trường tự do cạnh tranh giá cả, kẻ bán không có quyển bắt buộc người mua. Rẻ thì nhiều người mua. Đắt thì giử lại trong xí nghiệp. Thị trường chung là loại kinh tế do người cầu làm giá cho người cung. Chính việc nầy đã đưa Việt cộng vào thế bị động khi xía chính trị vào xí nghiệp. Chính quyền bắt dân vô sản ra công sản xuất nhiều mà không có ai mua thì những gì sẽ xẩy ra ?. Giả sử, tại các chợ nhập cảng từ Việt cộng không có khách cộng đồng Việt nam tỵ nạn cộng sản chào hàng, thì sẻ thế nào ? Giả sử cộng đồng người tỵ nạn cộng sản và người ngoại quốc bớt lui tới Việt nam thì những chuyến bay cuả Việt cộng sẻ ra sao ? Giả sử cộng đồng người tỵ  nạn cộng sản giảm thiểu gửi tiền về Việt nam thì bọn chóp bu Việt cộng sẻ đối xử với các nhà tranh đấu còn nặng tay nữa hay không ?  Những « giả sử » đưa ra đây chính Việt cộng đã biết, vì vậy mới có quyết định cho Việt kiều (đã thanh lọc kỷ) về Việt nam không cần visa trong nay mai.

d) An ninh. Sống trong cùng cộng đồng mà chúng ta chưa biết ai là bạn thật, ai là bạn giả ? Nói khác, về an ninh cộng đồng chưa kế hoạch được cách đối phó với đoàn quân bí mật Việt cộng đang cố làm nát cộng đồng. Sự hiện diện cuả đoàn quân bí mật Việt cộng đã làm cho người tỵ nạn cộng sản quên đi phận sự cuả mình, nhất là đối với những thân nhân trong nước ngày đêm đang cố sản xuất với một mức lương không xứng đáng với nghề nghiệp và mất cả nhân phẩm con người. Vì sao  chúng ta không tìm hiểu những hoàn cảnh con nít và đàn bà bụng mang dạ chữa bắt buộc phải làm đêm ?  Cuộc sống cuả chúng ta được an ninh tại hải ngoại có cần nhận diện bọn cán bộ và cơ quan « địch vận » cuả Việt cộng hay không ?

e) Vệ sinh. Nhìn qua vấn đề sức khoẻ đối với người tiêu thụ trong cộng đồng cũng là vấn đề cần bàn cải. Thực phẩm sản xuất tại Việt nam có đúng tiêu chuẩn vệ sinh trong môi trường sống cuả chúng ta hay không ? Vì sao tỷ lệ người chết trong cộng đồng Việt nam tỵ nạn tại Mỹ và tại Úc lại quá cao hơn so với các sắc tộc trong các cộng đồng ngoại quốc khác ?  Những hàng hoá thực phẩm sản xuất từ Việt nam dù cho có rẻ, nhưng có nên kế hoạch để đồng bào tỵ nạn cộng sản biết những thực phẩm có biến chất độc ? Biện pháp nào để những hàng hoá không đúng tiêu chuẩn vệ sinh đang xuất khẩu từ Việt nam ?

f)Vận động quần chúng. Qua những hình ảnh phát hiện cuả các vụ xữ án trong nước, những cuộc trấn áp các vị lãnh đạo tôn giáo, những cảnh đập phá chùa chiền Phật giáo và các tượng ảnh công giáo, đã thức tĩnh lương tâm cuả rất nhiều người Việt trong cộng đồng hải ngoại. Tuy nhiên thời gian diễn tiến thể tính chính trị quê hương Saigon hôm nay trở lại thị tứ tính thể Saigon có thể rất ngắn, nhưng cũng có thể còn dài, tuỳ theo cường độ quyết định có tính cách lịch sử cuả các Đại hội hôm nay và mai hậu. Thời gian càng « ngắn » khi những tư tưởng mông lung cứ lý luận trong mê hồn trận triết lý « có và không-có », hoặc luẫn quẩn xung quanh tư tưởng du dưa cuả bọn trí thức chùm gửi, bọn nhiều tiền nhiều bạc « có-thể-là-vậy và có-thể-đang-là-vậy » hoặc theo đuôi mấy tên thầy thuốc tâm lý thời nay « đồng-ý…, nhưng-mà » không đựơc kéo neo theo những quyết định. Do đó, các Đại hội chỉ nên tìm những con người biết ăn nói đàng hoàng cùng hướng về một mục đích, và loại ra ngoài những thành phần mồm mép lải nhải xu nịnh rủ rê cuả các thành phần trục lợi cho cá nhân, cho tổ chức, cho đảng phái chính trị và cho hội đoàn tôn giáo. Đối với Việt cộng, những quyết định tại Đại hội không thể xin mà có. Trái lại, bắt buộc hành động mới có. Hành động thế nào ? Đó là những quyết định thực tiễn về sách lược cuả Đại hội hôm nay (và các Đại hội tiếp tục sau nầy) .

Kết luận.

Thể tính cuả Đại hội là vị Đất nước Việt nam. Cùng nhau tìm ra một sách lược để quê hương và dân tộc thoát khỏi bàn tay Việt cộng. Vì vậy, Đại hội không thể giống như một đại hội Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hoà hảo… Bởi lẽ Đại hội chính trị đã mang danh « Phong trào đòi trả tên Saigon », có một đối tượng bao biền rộng lớn hơn, có một mục đích duy nhất đề ra những quyết định thể tính chính trị Quốc gia. Đó là sứ mạng tối hậu và cần thiết mà sự góp mặt cuả nhiều người khắp bốn phương trời về đây nói lên sự đồng tâm nhất trí với người sáng lập, linh mục Nguyễn hữu Lễ, với chiến dịch tẩy chay tên đồ tể Hồ chí Minh. Đây là thời gian để nhân dân trong và ngoài nước đánh giá cao hay thấp cuả Phong trào đòi trả tên Saigon trong việc cứu nước. Tôi nguyện cầu Tổ Hùng Vương gia ân cho Đại hội « Phong trào đòi tên Saigon » hôm nay đưa ra nhiều quyết định thực tiễn cho dân tộc và đất nước Việt nam trong việc đối đầu với Việt cộng.

 

Bruxelles, kỷ niệm lễ tổ Hùng vương 2007.

 


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com