Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

Thế nào là tầm quan trọng cuả một vấn đề chính trị?

 

Lê Hùng Bruxelles.

Hình vẽ và ngôn từ là cách thể hiện chuyện viết lách, cái cớ để con người gắn liền hay tách xa nhau. Hình vẽ là chuyện viết lách đại chúng, cố định, thực tiễn và nhạy cảm hơn ngôn từ. Những hình vẽ trên các bức tường đây đó, hoặc những tấm hí hoạ trên báo chí truyền thông là tỷ dụ điễn hình. Nhưng ngôn từ viết lách thì khó hơn, nhất là trong môi trường chính trị không phải là chuyện mơ hồ, mà phải căn cứ vào chuyện có thật để chứng minh cho lập luận cuả mình và như thế mới có hữu hiệu thuyết phuc. Viết lách trong môi trường chính trị không thể là cuộc phiêu lưu không bến không bờ, muốn nói gì thì nói, và nhất là phải tránh những lý luận theo cảm tính cuả mình. Điều sau nầy thường hiễn hiện trong cộng đồng chúng ta vẫn còn nhiều tác giả thường tự phụ về thành tích quá  khứ « mũ cao áo rộng một thời », mà quên đi cái lối học tác hành cuả văn hóa thời đại. Các tác giả nầy không nghĩ rằng bên cạnh họ còn có người khác đang theo dỏi tầm mắt, ghi nhận mọi cử chỉ và đã giật mình khi nghe tiếng gọi tên. Trạng thái nầy thường đưa tác giả đến hành động thiếu tính toán và khôn ngoan vì cứ nghĩ rằng xung quanh mình là người không tốt. Kết quả gì sẻ xẩy ra ? Người ta sẻ đâm đầu vào lý luận. Người trí thức lý luận theo kiểu trí thức. Người bình dân theo kiểu bình dân. Muôn ngàn lý luận !. Người ta có nhiều lý luận đẹp trong giấc mơ. Người ta đủ hùng biện trong tranh luận. Cứ thế mà tiếp tục bởi vì xét ra lời biện minh cuả mình rất lô-gíc và lời tranh luận kẻ kia rất mơ hồ. Muốn chấm dứt ? Thì chi bằng, trong xã hội loài người văn minh hôm nay thường dùng đến hai loại sức mạnh truyền thông. Đó là sức mạnh hình vẻ và sức mạnh ngôn từ.

1. Sức mạnh cuả hình vẽ.

Tôi xin dựa vào bài « Vấn đề cha Lý », cuả Duyên lảng Hà tiến Nhất viết, để thu gọn ý nói về sức mạnh cuả 2 tấm hình đã làm cho Việt nam cộng hoà miền Nam sụp đỗ:

Một bức hình hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Saigon do David Halberstam, thông tín viên của tờ New York Times tại Saigon, chụp vào trưa ngày 11-6-1963. Ngay buổi chiều cùng ngày bức hình này đã được đặt trên bàn làm việc của TT Kennedy. Tin tức và hình ảnh về vụ tự thiêu này lập tức được quảng bá trên tòan thế giới mà chủ chốt là hệ thống truyền thông Knight Ridders của bọn tư bản Do Thái. Thế giới lên án. Những người trí thức gắn bó với chế độ TT Diệm nhất như Trần Văn Chương, Vũ Văn Mẫu rũ áo ra đi. Những tướng tá lưu manh lật lọng yên tâm dấn thân sâu vào tội ác không còn gì ngượng ngập. Quốc Hội Mỹ ngoảnh mặt thắt hầu bao. Kennedy rửa tay. Và cuối cùng tên Do Thái độc ác lên máy bay tới tận chỗ để thi hành bản án. Khi “mission accomplie” là lúc bọn tướng tá Đôn, Đính, Minh, Mậu, hí hửng chia chác số tiền 3 triệu bạc mà chủ của chúng thưởng công. Tấm hình đã làm xong nhiệm vụ của nó.

Bức hình thứ hai là hình Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết tên đại úy VC Nguyễn Văn Lém ngay trên đường phố Saigon ngày 1-2-1968, vào lúc biến cố Tết Mậu Thân 1968. Bức hình này do phóng viên nhiếp ảnh Eddie Adams của AP (Associated Press) chụp được. Nhờ bức hình này mà Eddie kiếm được cái giải Pulitzer, còn TT Lyndon B. Johnson phải tiêu tùng sự nghiệp chính trị. Cũng nên biết rằng bức hình tuy làm Eddie nổi tiếng hơn nhưng cũng làm ông ta bị ám ảnh suốt cuộc đời. Năm 1998 khi tướng Loan qua đời, Eddie hối hận đã đến tận nhà tại tiểu bang Virginia để xin lỗi người chết và nói: “The guy was a hero, America should be crying.” (Ông ta là một người anh hùng, nước Mỹ nên khóc thương). Eddie còn công khai viết trên tờ Time để nhận lỗi: « The general killed the Viet Cong. I killed the general with my camera ……… What would you do if you were the general at that time and place on that hot day, and you caught the so-called bad guy after he blew away one, two or three American people ? » (Xin tạm dịch: "Ông tướng (Loan) giết tên VC. Tôi giết ông tướng (Loan) bằng máy ảnh của tôi …….. Bạn sẽ làm gì nếu bạn là ông tướng (Mỹ) vào lúc đó, tại nơi đó, trong cái ngày căng thẳng đó, khi bạn tóm cổ được một tên gọi là khốn kiếp nó đã hạ sát một, hai hay ba người Mỹ?" ).

2. Sức mạnh cuả ngôn từ.

Ngôn từ dùng trong chính trị là loại ngôn ngữ có mục đích tối hậu thuyết phục quần chúng qua những lý luận có kèm theo bằng chứng. Ở phần nầy, tôi xin dựa vào bài viết cuả linh mục Nguyễn hữu Lễ viết trong bài « bịt miệng cha Nguyễn văn Lý » để tóm lược phần chính, nói lên bức xúc của những độc giả, dù vô tư nhất.

a) Người dân trong nước bị Bịt Miệng.

Trước vành móng ngựa của Toà Án Nhân Dân Huế ngày 30-3-07, hai công an mặc sắc phục có đeo súng đứng kè hai bên là biểu tượng hoàn hảo nhất cảnh chế độ Việt cộng. Sau lưng đôi tay vạm vỡ của một tên công an bịt cứng miệng linh mục Nguyễn văn Lý  là hình ảnh những cánh tay sắt khổng lồ cuả chế độ Việt công đang khủng bố giết chóc, đã làm nhân dân khiếp sợ. Vì nhu cầu bảo vệ mạng sống, an toàn cho cá nhân và gia đình, người dân dưới chế độ cộng sản bắt buộc phải cúi đầu vâng phục mệnh lệnh của Việt cộng, nếu muốn sống và sống yên thân phải tự đưa tay Bịt Miệng của mình.

b) Đồng bào hải ngoại bị Bịt Miệng

Lợi dụng tình thế đồng bào hải ngoại có nhu cầu tình cảm về thăm quê, bọn Việt cộng đã ra tay, ngoài « dịch vụ » thu gom tiền mãi lộ hoạt động rầm rộ gần như công khai tại phi trường Tân Sơn Nhất, bọn chúnh còn tạo ra hình thức « khủng bố tình cảm » bằng cách hạch sách, gây khó dễ, gọi làm việc, bắt bớ, giam giữ những người có thành tích dường như « phản động » ở nước ngoài. Cuối cùng , bọn Việt cộng đã dùng « nhu cầu thăm quê hương » như sợi dây thòng lọng siết cổ đồng bào hải ngoại, buộc phải đưa tay mình Bịt Miệng chính mình. Tại hai sân Nội bài và Tân Sơn Nhất, kiều bào đã cẩn thận nhập cảnh bằng loại passport « có nhét đô-la bên trong » mỗi lần xuất nhập.

c) Hội Đồng Giám Mục Việt Nam bị Bịt Miệng

Hiện nay trong số các Giám mục còn làm việc tại Việt Nam, đa số là những vị chịu chức Giám mục sau năm 1975, nghĩa là những người được đảng cộng sản chọn và cho phép được làm Giám Mục. Vì là những người được đảng cộng sản chọn và cho phép làm Giám mục nên các ngài buộc phải tự đưa tay Bịt Miệng của mình trước những tội ác tày trời của đảng xúc phạm đến Dân Tộc là điều không có gì khó hiểu. Một Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) gồm đa số là những Giám mục được đảng chọn và cho phép làm Giám mục sẽ trở thành một Hội Đồng Giám Mục bị Bịt Miệng là lẽ đương nhiên. Việt cộng đã lấy chức Giám Mục làm chiếc dây thòng lọng quàng vào cổ để các Ngài phải tự đưa tay Bịt Miệng chính mình và cam chịu cảnh có miệng không lời. Mặc dù trong lòng một vài vị trong các Ngài cũng cảm thấy xốn xang đau xót cho cảnh đồng bào Việt Nam đang chịu bao nhiêu thứ bất công dưới chế độ độc tài cộng sản! Nhất là chuyện các Ngài đang chịu ảnh hưởng tác quyền cuả một nhóm linh mục đại biểu quốc hội Việt cộng.

d) Các Linh mục Việt Nam hải ngoại bị Bịt Miệng

Đa số Linh mục Việt Nam hải ngoại thường xử dụng câu nói “Linh mục không làm chính trị” để biện minh cho thái độ phủi tay trước hoàn cảnh đồng bào bị chế độ Việt gian cộng sản khai thác đến tận xương tủy ở quê nhà. Sau một thời gian quan sát và tìm hiểu, tôi đã thấy đa số anh em Linh mục nói câu đó là những người trẻ, sinh sau đẻ muộn, lớn lên học hành và chịu chức Linh mục ở nước ngoài. Họ không đủ ý thức và sự cảm thông về hoàn cảnh của đồng bào sống dưới chế độ cộng sản tại quê nhà. Một số khác cũng từng là nạn nhân của chế độ cộng sản, đã vượt biên trốn ra nước ngoài, nhưng nay có nhu cầu về thăm quê hương và đã bị chế độ cộng sản dùng nhu cầu này làm thành chiếc dây thòng lọng quàng vào cổ và các ngài cũng đã tự đưa tay Bịt Miệng của mình để khỏi bị làm khó dễ khi về Việt Nam! Trong thực tế, có nhiều Linh mục đi đi về về Việt Nam như đi...chợ!

Tiện đây người viết xin ghi thêm lời đức Thánh Cha đương đại đã phát biểu : « Im lặng không phải là bổn phận hàng đầu của người công dân và riêng tôi, tôi kinh sợ một Giám Mục chỉ biết an phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền phức và lấp liếm xung đột » (Le Sel de la Terre).

3.-Ngôn từ hoang tưởng trên sách vở báo chí.

Ngoài ra còn một loại ngôn từ hoặc là vô thưởng vô phạt, hoặc là có dụng ý cạnh tranh mà tôi gọi là ngôn từ « hoang tưởng » cũng khá tai hại. Trong môi trường sách vở và báo chí trong cộng đồng chúng ta từ trước đến nay đầy dẩy những bài viết hoang tưởng không có lợi cho công cuộc đấu tranh với Việt cộng. Nhiều vị trí thức có học vị cao, xem ra có lập trường chống cộng, nhưng có lẽ vì vấn đề cạnh tranh nào đó, nên đã viết vội nhiều bài rất lạ tai. Người thì viết theo tin tức và suy luận, kẻ thì viết theo lối hàn lâm và đưa ra kết luận. Chẳng hạn cùng là những mẫu chuyện xoay quanh ông chiến sỉ Lý Tống, ông linh mục Nguyễn văn Lý và những vị dấn thân cho tự do dân chủ trong nước, nhưng nội dung các bài viết rất khác nhau. Người thì chê, kẻ thì mến. Người Việt không-cộng-sản tại hải ngoại ai cũng thừa biết lịch sử oai hùng cuả anh Lý Tống. Người Việt hải ngoại ai cũng đau lòng khi thấy hình ảnh linh mục Nguyễn văn Lý bị điệu ra vành móng ngựa và bị công an Việt cộng bịt miệng. Thế mà, có nhiều vị trí thức và chủ báo chỉ vì cạnh tranh thương mãi hay vì lý do nào đó lại nở tâm diễn dịch ra cách khác, cho chuyện tù đày đó là những cú « giả đò » làm nội ứng để Việt cộng bắt trụm cả gói những người yêu nước chân thực. Tôi thấy việc viết lách như vậy quả thật không trí thức chút nào ! Đành rằng quý Vị có quyền diễn giải, có quyền đưa ra những thắc mắc, để tìm những phản biện đứng đắn, nhưng xin quý Vị đừng vội đưa ra lời kết luận. Vì làm như vậy, trước hết là « thất đức ». Mà đã thất đức thì đâu lại cần gì nghĩ đến chuyện thật khỗ đau cuả người khác. 

Kết luận:

Vì vậy, tôi không sợ gì bằng sợ đọc nhầm vào những bài viết hoang tưởng cuả một số trí thức « lạ kỳ » trong cộng đồng chúng ta. Bởi lẻ dể hiểu là trong những bài viết đó, nhà trí thức đã hướng dẫn người đọc đi ra quá xa hoặc ra ngoài vấn đề thực có, và điều nầy không bao giờ tách rời cảm quan người trí thức khi lý luận trong bài mình viết. Một nhà trí thức Việt cộng (hoặc địch vận tại hải ngoại) không thể không bào chửa những lầm lỗi cuả chế độ trong nước.(Làm sao mà xuất ngoại xin tiền hay rửa tiền được ?). Một nhà trí thức thủ lợi tại hải ngoại (hoặc trong nước) không dại gì phải khen những việc cộng-đồng-không-cộng-sản đang đấu tranh.(Làm sao mà về Saigon-Hànội ôm em hay gạt gẫm đàn bà con gái?). Lý luận khen chê bóp méo sự thật, là lập trường bất di dịch cuả những nhà trí thức hoang tưởng. Rất nguy hiểm !

Trên đây tôi nhắc đến vài chuyện đã xẩy ra trong những ngày gần đây là cốt để cùng nhau suy gẫm thế nào là tầm quan trọng cuả một vấn đề, nhất là vấn đề đó đang liên quan đến cuộc sống cuả chúng ta, cuả bà con chúng ta trong nước. (Tôi không nói cuả tất cả nhân dân trong nước). Tôi ước mong rằng những nhà trí thức trong cộng đồng, những chủ sách báo viết, những giám đốc website điện tử, cùng nhau nhìn vào vấn đề chính mà giúp ích cho nhân dân trong nước và cộng đồng chúng ta đang sống trên đất nước người. Tôi xin quý Vị hiểu rằng trọng trách cuả quý Vị lớn nhất và quý nhất trong mọi vấn đề chính trị hệ trọng cuả Đất nước.

 

Lê Hùng Bruxelles.

 


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com