Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

Thông điệp Vang Pao

Những trang sử về người Hmong trắng ở Lào là những trang sử đau buồn nhất và thê thảm nhất về sự dính líu của người Mỹ vào chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi tin rằng không một ký giả nào hay sử gia nào khi ngồi ghi lại những trang sử này mà không rơi nước mắt.

Và những trang sử này đã trở nên thê thảm hơn nữa khi hôm 4.6.2007 vừa qua, Tướng Vang Pao, người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Cộng ở Đông Dương hơn 30 năm trước đây do CIA giàn dựng và chỉ đạo, và 8 người cộng sự trong đó có một cựu sĩ quan Vệ Binh Quốc Gia tiểu bang California, đã bị cơ quan an ninh Hoa Kỳ bắt và truy tố về tội âm mưu dùng võ lực lật đổ chính phủ Cộng Sản Lào. Tin này đã làm cả cộng đồng người Lào lẫn cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ xúc động mạnh.

MỘT CHUYỆN PHỦ PHÀNG

Tổng hợp một số bản tin quốc tế được phổ biến trong ngày 5.6.2007, chúng ta được biết như sau: Sáng thứ hai 4.6.2007, cơ quan kiểm soát Rượu, Thuốc Lá, Vũ Khí và Chất Nổ (Bureau of Alcohol, Tobacco, Firearms and Explosives, viết tắt là ATF) đã bắt 9 người đưa ra truy tố trước Tòa Án Liên Bang ở Placerville, Sacramento. Biện Lý McGregor W. Scott cho biết những người này đã “thành lập một ủy ban để lượng giá về khả năng có thể hướng dẫn một toán viễn chinh hay một tổ chức quân sự nhằm thực hiên một cuộc lật đổ chính phủ hiện tại ở Lào bằng các phương thức bạo động, kể cả hạ sát, tấn công các viên chức quân sự lẫn dân sự của Lào và phá hoại các cao ốc cũng như tài sản của Lào.”

Ông nói thêm: Họ đã gây quỹ và thương lượng để mua các vũ khí gồm có súng AK-47 và súng trường tự động M-16, các hỏa tiển Stinger, các hỏa tiển chống tăng, mìn và đạn dược. Nhóm này đã quyên góp được 9.800.000 USD để mua vũ khí và các trang bị quân sự.

Âm mưu của nhóm Vang Pao đã bị lộ ngay từ lúc mới manh nha. Một người buôn súng ở vùng Phoenix, Arizona, đã báo cho một thám tử của ATF biết khi cựu Trung Tá Harrison Ulrich Jack đến gặp đương sự để mua 500 khẩu súng AK-47.

Cơ quan ATF đã mở một cuộc hành quân được mệnh danh là “Operation Tarnished Eagle” (tạm dịch là Cuộc Hành Quân Đại Bàng Xỉn) kéo dài trong 6 tháng để gài bẩy và bắt những người liên hệ. Một thám tử giả làm người môi giới bán võ khí, đã đến gặp Tướng Vang Pao, ông Harrison Ulrich Jack, và 10 người cộng sự khác tại một nhà hàng Thái ở Sacramento hôm 7.2.2007. Sau bữa ăn, nhóm này đã cùng đi trên chiếc xe RV của người thám tử đến một nơi để xem súng đại liên, súng phóng lựu, hỏa tiễn chống tăng, mìn (chất nổ C-4) và nhiều võ khí khác.

Một tuần sau đó, ngày 15.2.2007, ông Harrison Jack điện thoại cho người thám tử và cho biết nhóm đồng ý xúc tiến việc mua vũ khí. Số vũ khí đồng ý mua trị giá lên đến 9,8 triệu USD. Cuộc điện đàm này đã bị thâu âm.

Ngày 13.4.2007, điệp viên của ATF đã gặp cựu Trung Tá Harrison Ulrich Jack và Lo Cha Thao, đại diện của Tướng Vang Pao, trong vòng 25 phút ở bãi đậu xe của siêu thị Kmart gần Highway 99 và đường Farmington ở Stockton, bắc California. Các cuộc gặp gỡ khác đã diễn ra ở khách sạn Doubletree, khách sạn Hilton, các quán rượu và các nhà hàng ở Sacramento.

Ông Robert Twiss, Phó Biện Lý phụ trách khu vực đông California cho biết trong đợt đầu các đại diện của Vang Pao đã mua 125 súng AK-47, 20.000 đạn và các lựu đạn khói với giá 100.000 USD. Họ đã tìm được tàu để chuyên chở các vũ khí này đến Thái Lan trong hai chuyến vào ngày 12 và 19.6.2007 rồi chuyển vào Lào để làm nổ 7 hay 8 cao ốc của chính phủ Lào gióng như vụ 911 ở New York vậy. Nhưng khi vừa trao tiền và nhận hàng thì bị cơ quan ATF bắt.

Ngày 4.6.2007 cơ quan ATF đã dùng đến khoảng 200 thám tử để thực hiện các cuộc phục kích, bố ráp và bắt giữ những người liên hệ. Sau đây là những người đã bị bắt:

Vàng Pao, 77 tuổi, sinh tại Xiêng Khoảng, đã từng tham gia du kích chống Nhật rồi vào quân đội Hoàng Gia Lào năm 1964 và là người Hmong đầu tiên ở Lào được phong tướng. Ông đã được CIA hướng dẫn và hổ trợ để thành lập đạo quân người Hmong chiến đấu chống Cộng Sản ở Đông Dương từ 1960 đến 1975. Ông đến Mỹ năm 1975 và hiện sống tại thành phố Westminster, California. Ông đã giúp nhiều người Hmong đến định cư tại Hoa Kỳ và là thủ lãnh của phong trào giài phóng Lào mang tên Neo Hom Movement, được thành lập vào thập niên 80 để hỗ trợ các lực lượng chống chính phủ cộng sản Lào.

Harrison Ulrich Jack, 60 tuổi, ở Woodland, Yolo County. Jack tốt nghiệp Trường Võ Bị West Point năm 1968 và từng tham chiến tại Việt Nam, sau đó tham gia đội Vệ binh Quốc Gia của California với cấp bậc Trung Tá. Ông giải ngũ năm 1977. Ông mới hợp tác với Neo Hom Movement vào tháng 3 vừa qua và đảm trách việc mua và vận chuyển vũ khí về Thái Lan cho tổ chức này.

Ông Steve Martin, một thám tử phụ trách văn phòng ở San Francisco của ATF cho biết nhà chức trách không biết nhiều về động cơ thúc đẩy ông Jack tham gia nhóm này. Ông nói: “Chúng tôi chỉ biết là ông đã phục vụ nhiều lần ở Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ vì thế mà ông có liên hệ với một số người Hmong.”

Lo Cha Thao, 34 tuổi, ở Clovis, Fresno County. Ông giúp việc cho một cựu Nghị Sĩ của bang Wisconsin.

Lo Thao, 53 tuồi, ở Sacramento, Chủ Tịch Hội Hmong Quốc Tế Thống Nhất (United Hmong International) , còn được gọi là Hội Đồng Tối Cao 18 Thị Tộc Hmong (Supreme Council of the Hmong 18 Clans).

Youa True Vang, 60 tuổi, ở Fresno, người sáng lập Hội Tết Hmong Quốc Tế ở Fresno (Hmong International New Year).

Hue Vang, 39 tuổi, ở Fresno, cựu viên chức cảnh sát thành phố Clovis, Giám Đốc Hội Đồng Thống Nhất Lào vì Hòa Bình, Tự Do và Tái Thiết (Director of United Lao Council for Peace, Freedom, and Reconstruction) .

Chong Yang Thao, 53 tuổi, một bác sĩ chỉnh hình (chiropractor) ở Fresno.

Seng Vue, 68 tuổi, ở Fresno, thành viên Hội Hmong Quốc Tế Thống Nhất.

Chue Lo, 59 tuổi, ở Stockton, thành viên Hội Hmong Quốc Tế Thống Nhất.

Người thứ 10 cũng đã bị bắt nhưng chưa bị truy tố, đó là Nhia Kao Vang ở Rancho Cordova, California.

Tất cả những người bị bắt đều bị truy tố về tội vi phạm Đạo Luật Trung Lập (Neutrality Act) của liên bang cấm các công dân Mỹ không được tham gia vào các hoạt động chống lại bất cứ quốc gia nào không đang lâm chiến với Hoa Kỳ. Ngoài ra, các bị cáo còn bị truy tố về các tội sau đây: Âm mưu hạ át, bắt cóc, gây thương tật và thương tích cho những người ở ngoại quốc; âm mưu gây thiệt hại cho các cao ốc và tài sản của chính phủ ở ngoại quốc; và âm mưu nhận và sở hữu các súng tự động và các thiết bị chất nổ.

Trong một bản tin phổ biến cho báo chí hôm 4.6.2007, ông Kenneth L. Wainstein, Phụ Tá Bộ Trưởng Tư Pháp đặc trách về An Ninh Quốc Gia, đã nói: “Chúng tôi không thể dung tha việc xử dụng đất nước chúng ta như là nơi để sắp xếp những cuộc âm mưu đảo chánh ở ngoại quốc.” (trừ khi chính CIA làm việc này!).

Đến đây, một vấn đề khác được đặt ra là nếu muốn mua vũ khí để đưa vào Lào, tại sao nhóm Vang Pao không mua ở Thái Lan hay Cam-bốt mà mua tại Mỹ với giá đắt hơn 10 lần và chuyển vận rất khó? Theo sự tham dò của chúng tôi, tại Cam-bốt giá một khẩu AK-47 trước đây giá 80 USD, nay đã tăng lên, nhưng cũng chỉ khoảng 120 USD mà thôi. Chất nổ C-4 cũng có thể mua đễ dàng. Có người còn quả quyết rằng tại Cam-bốt nếu có tiền có thể mua cả đại liên, súng cố hay xe tăng. Nhiều đơn vị quâm đội ở đây sẵn sàng ăn cắp để bán, không cần biết người mua sẽ xử dụng vào việc gì. Tướng Vang Pao thừa biết chuyện đó. Phải chăng nhóm Vang Pao đã bị FBI gài cho mua vũ khí tại Mỹ để tịch thu cả số tiền 9,8 triệu mà người Hmong ở Mỹ đã đóng góp cho tổ chúc New Hom Movement?

BẤT HẠNH VÌ DÍNH VỚI CIA

Người Hmong thuộc ngữ hệ Mèo – Dao vốn ở phía nam Trung Quốc, đã di cư xuống Đông Nam Á vào khoảng thế kỷ 16 và 17. Hiện nay tại Việt Nam, người Hmong chiếm khoảng 0,8% dân số ở khắp vùng rẻo cao trên 1500 thước ở các tỉnh miền núi phía Bắc, chủ yếu tại ba tỉnh Lao Cay, Hà Giang và Tuyên Quang.

Trong chiến tranh Việt Nam, số người Hmong ở Lào được ước lượng có khoảng 350.000 người, chia ra làm ba dòng tộc khác nhau. Hmong Sọc và Hmong Xanh (còn gọi là HMong Hoa) và Hmong Trắng. Những tên này được đặt theo trang phục của người Hmong.

Người Hmong Sọc và Hmong Xanh sống ở phía Tây Lào. Hai dòng tọc này rất hiền hòa, chỉ lo canh tác làm ăn, không muốn can dự vào cuộc chiến. Người Hmong Trắng sống ở các đồi núi chung quanh Cánh Đồng Chum ở phía đông bắc Lào, gần sát với biên giới Việt Nam. Đây là một dòng tộc tương đối văn minh hơn hai dòng tộc kia và thường được coi là những chiến sĩ kiên cường (tenacious warriors). Vì thế, người Hmong được cơ quan tình báo CIA khai thác.

Tháng 8 năm 1960, Đại Úy Kong Le, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, một biệt kích được CIAõ huấn luyện, đã làm đảo chánh, lật đổ chính phủ thân Tây phương ở Lào và lên nắm quyền ở Vạn Tượng.

Chính quyền Eisenhower lúc đó sợ Kong Le đi theo Cộng Sản, đã yểm trợ mạnh mẽ cho quân đội của Hoàng Thân Phoumi Nosavan đang đặt bản doanh tại Savannakhet, và chấp thuận đề nghị của CIA, tuyển dụng và huấn luyện người Hmong để thành lập một đạo quân thường được gọi là “đạo quân bí mật” dưới sự điều khiển của Tướng Vang Pao để chống Cộng. Người Hmong bắt dầu dính vào với CIA Mỹ từ đó.

Dòng tộc Hmong Trắng có hai lãnh tụ lớn là Vang Pao và Touby LyFong. Vang Pao là một nhà lãnh đạo quân sự, đã từng lãnh đạo dòng tộc Hmong từ thập niên 1940 đến giữa thập niên 1970. Còn Touby LyFong thiên về các hoạt động chính trị và xã hội.

Đến mùa hè năm 1961, CIA đã huấn luyện và cung cấp vũ khí cho khoảng 9.000 quân Hmong chiến đấu. Tuy nhiên, tháng 5 năm 1962, với sự yểm trợ của bộ đội Việt Nam, Pathet Lào đã chiếm được thủ phủ Nam Tha ở bắc Lào. Tổng Thống Kennedy phải ra lệnh cho khoảng 3.000 nhân viên quân sự Mỹ rút qua Thái và sau đó mở hội nghị với Khrushchev bàn về một giải pháp trung lập cho Lào, vì Tổng Thống Kennedy tin tưởng một cách ngây thơ rằng nếu đặt Lào dưới quy chế trung lập, Việt cộng sẽ không thể mượn lãnh thổ Lào để xâm nhập miền Nam Việt Nam nữa! Công việc thương thuyết để trung lập hóa Lào được giao cho Averell W. Harriman, Phụ Tá Ngoại Giao về Đông Nam Á Sự Vụ, phụ trách. Harriman đã thực hiện việc trung lập hóa Lào bằng mọi giá, bất chấp sự phản đối của chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 23.7.1962 Tuyên Ngôn Trung Lập Lào được công bố. Khoảng 666 cố vấn quân sự của Hoa Kỳ còn lại rút ra khỏi Lào. Đạo quân Hmong được CIA huấn luyện bị bỏ rơi!

Nhưng theo báo cáo của CIA, sau khi tuyên bố trung lập, khoảng 7000 quân đội Việt Nam chẳng những không chịu rút khỏi Lào mà còn bành trướng thêm. Trong năm 1963, chính quyền Kennedy lại cho phép CIA trở lại Lào, huấn luyện và trang bị cho khoảng 20.000 quân Hmong để chống lại quân Bắc Việt lẫn Pathet Lào. Người Hmong được huấn luyện và trang bị đã chiến đấu rất kiên cường và gan dạ, đã phá hủy nhiều hệ thống tiếp tế của Bắc Việt. Tuy nhiên, quân số Hmong quá ít và không được trang bị đầy đủ, đã không thể chống lại các đơn vị khổng lồ và thiện chiến của Bắc Việt.

Vào tháng 5 năm 1968, CIA ước lượng có khoảng 35.000 quân Bắc Việt có mặt tại Lào. Trong khi đó, lực lượng Hmong bị tổn thất quá nặng. Nhưng cứ 1000 quân Hmong bị tổn thất, CIA chỉ huấn luyện và đưa vào bổ sung được 300 quân. Người ta phải vét cả những trẻ vị thành niên, người lớn tuổi và cả phụ nữ để đưa vào cuộc chiến. Theo sự ước tính của CIA, có 30% quân Hmong từ 10 đến 14 tuổi, 30% từ 15 đến 16 tuổi, 40% còn lại đa số trên 55 tuổi. Có khi CIA phải tuyển thêm những lính đánh thuê người Thái để bổ sung vào, nhưng vẫn không thấm vào đâu. Cuối cùng, Hoa Kỳ quyết định dùng không quân để chống lại Cộng quân. Nhưng khi Hoa Kỳ quyết định rút khỏi Đông Dương vào năm 1973, thân phận của các chiến sĩ Hmong chống cộng bắt đầu trở nên thê thảm.

Năm 1975, với sự hổ trợ của quân Bắc Việt, Pathet Lào hoàn toàn kiểm soát Lào. Ngày 2.12.1975 Pathet Lào làm đảo chánh, chấm dứt chế độ quân chủ. Vua Sisavang Vatthana bị buộc thoái vị nhưng được chỉ định làm Cố Vấn Tối Cao cho chính phủ mới. Thủ Tướng Souvana Phouma mới bị lật đổ, cũng được chỉ định làm “Cố Vấn Chính Phủ”.

MỘT CHƯƠNG BI THẢM

Anh Chia Vue Yang kể lại rằng lúc mới 10 tuổi, anh bị bắt đưa lên trực thăng của cơ quan tình báo Hoa Kỳ và đưa vào một trại ở giữa rừng. Họ gọi anh là “chú lính quân dịch”. Anh có biết gì đâu. Trước hết anh phải lo nấu nướng, giặt áo quần và phục vụ cho người Mỹ. Khi anh lớn lên, họ dạy cho anh xử dụng súng máy và cách đánh trận. Rồi anh ra trận. Ông Jerry Daniel, một nhân viên CIA, thường đến và nói với anh: “Đứng lo. Tao lo cho mày”. Họ đều tin ở ông Jerry. Nay thì họ cảm thấy bị phản bội.

Trong chiến tranh, người Hmong Trắng đã chịu nhiều thương vong nặng nề. Người ta ước lượng đã có khoảng từ 18.000 đến 20.000 chiến sĩ Hmong tử trận, trong đó có cả trẻ vị thành niên và phụ nữ. Đó là chưa kể số dân chúng bị thiệt hại vì chiến cuộc.

Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, số phận của họ còn bi thảm hơn nữa. Trong bài “Forgotten Soldiers” (Những người chiến sĩ bị bỏ quên), bà Susan M. Barbieri đã ghi lại những đau khổ mà các chiến sĩ Hmong đã gánh chịu khi Mỹ rút khỏi Lào. Tou Yang, một chiến sĩ Hmong năm nay 41 tuổi, đang định cư tại Hoa Kỳ, đã nói với bà:

“Năm 1974, khi người bạn Hoa Kỳ bỏ Lào, hy vọng một nước Lào tự do của người Hmong coi như tan vỡ. Khi Hoa Kỳ rút đi, kháng chiến quân bị kẻ thù địch săn đuổi khắp nơi, trên núi, trong thung lũng, nơi rừng rậm... Chúng tôi bị bỏ rơi, chúng tôi không trốn thoát được, chúng tôi không thể đến Thái Lan, chúng tôi không được tự do. Cấp chỉ huy của chúng tôi đã bỏ chúng tôi... Bây giờ ở trên đất Mỹ này, chúng tôi vẫn cảm thấy như chúng tôi đang bị bỏ rơi.”

Khi Cộng Sản chiến miền Nam Việt Nam, trên 200.000 người Hmong đã vượt sông Cửu Long chạy thoát qua được Thái Lan. Phần lớn đã lần lượt được đi định cư ở Hoa Kỳ hay Úc Châu. Người ta ước lượng hiện nay có khoảng 160.000 người Hmong đang định cư tại Hoa Kỳ, tập trung ở ba tiểu bang Wisconsin, Minnesota và California. Nhưng một số người Hmong còn bị kẹt lại ở Thái Lan đang lâm vào tình trạng khốn đốn.

Khi chính phủ Thái Lan và Liên Hiệp Quốc quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn, khoảng 26.000 đã người bị đẩy trở lại Lào. Một số trốn thoát được khỏi trại và đến xin tá túc tại tu viện Phật Giáo Tham Krabok, một trung tâm bài trừ ma túy. Nhật báo New York Times số ra ngày 12.3.1997 có đăng một bài dưới nhan đề “Những dân du mục Lào: những người còn lại của trận chiến Việt Nam” của Seth Mydans nói về số phận của 17.000 dân Hmong đang tạm trú tại tu viện này. Họ được chính phủ Thái Lan mô tả là “di dân bất hợp pháp và nguồn gốc không được xác định”. Thái Lan không muốn cho họ định cư tại Thái, còn chính phủ Hoa Kỳ tìm cách chối bỏ trách nhiệm. Họ phải lao động rất vất vả với đồng lương chết đói và có một đời sống rất cơ cực. Đến nay, thân phận họ vẫn chưa được giải quyết.

CAM-BỐT VÀO SAU RA TRƯỚC

Nhiều người đã than phiền với chúng tôi: “Con chó đẻ chỉ ba ngày đã mở mắt, tại sao nhiều người Việt đã chiến đấu với người Mỹ 20 năm và ở trên đất Mỹ 32 năm, lại vẫn chưa mở mắt?” Khó mà trả lời chính xác câu này. Trong tuần qua, sau khi đọc bài “Trận giặc hỏa mù” của chúng tôi, có người còn viết thư bảo chúng phải viết như người nọ người kia, tức viết đúng theo “đơn đặt hàng” như những người ăn Frund hay ăn Grant cửa Mỹ đã viết!

Trong cuộc chiến Việt Nam, người Cam-bốt dính vào Mỹ chậm nhất, vì Quốc Vương Sihanouk muốn duy trì một nước Cam-bốt trung lập. Nhưng với một nước nhước tiểu, không phải muốn mà được. Ngày 18.3.1970, khi Quốc Vương Sihanouk đang đi qua Pháp, Tàu và Nga để nhờ ba nước này giúp Cam-bốt trung lập, thì theo sự xúi biểu của CIA, Hội Đồng Hoàng Gia Miên đã họp để duyệt xét tình hình, bỏ phiếu truất phế Sihanouk và cử Tướng Lon Nol làm quyền Quốc Trưởng, thiết lập một chế độ thân Mỹ. Ngày 28.4.1970, do sự sắp xếp của Mỹ, Quân Lực VNCH dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Cao Trí, đã mở cuộc hành quân “Toàn Thắng” tiến vào lãnh thổ Cam-bôt!

Nhưng chỉ 5 năm sau, ngày 12.3.1975, bằng chiến dịch “Phượng Hoàng Bay” (Eagle Pull), vào lúc 12 giời trưa, Đại Sứ Dean của Mỹ ở Nam Vang đã cuốn lá cờ Mỹ cặp vào nách và lên chuyến bay trực thăng cuối cùng rút khỏi Cam-bốt. Thủ Tướng Sirak Matak, đã gởi cho Đại Sứ Dean một văn thư giải thích việc ông từ chối ra đi với người Mỹ. Ông viết:

“Thưa đại nhân và thân hữu, tôi cám ơn về bức thư và về việc ngài dành cho tôi chỗ để đến nơi tự do. Trời ôi, tôi rất tiếc không thể ra đi trong điều kiện hèn nhát như vậy. Còn về ngài và nhất là quý đại cường quốc, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng các ngài lại có ý định bỏ rơi những người đã chọn tự do. Các ngài đã từ chối không bảo vệ chúng tôi nữa. Chúng tôi không có thể làm gì được. Các ngài lên đường, tôi chúc các ngài và quý quốc tìm thấy hạnh phúc dưới bầu trời... Tôi đã mắc một sai lầm duy nhất là đã tin vào những người Mỹ!” (I have only committed the mistake of believing in Americans.)

Đây là một văn kiện lịch sử. Thủ Tướng Sirak Matak đã ở lại và bị Khmer đỏ giết.

Tuy mới đến sau và chỉ là một dân tộc nhỏ bé, người Cam-bốt đã sớm dứt khoát với người Mỹ.

CUỘC CHIẾN VẪN TIẾP TỤC

Người Lào hợp tác với Mỹ chậm hơn VNCH khoảng 5 năm. Phải đến năm 1960 người Lào mới thật sự dính líu tới Mỹ. Nhưng với người Hmong, cuộc chiến lại chấm chậm hơn VNCH.

Đối với người Việt, cuộc chiến coi như đã chấm dứt vào ngày 30.4.1975, khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Nhưng người Hmong còn lại trên đất Lào vẫn phải tiếp tục chiến đấu.

Số binh sĩ Hmong trốn qua Thái Lan vẫn được tình báo Mỹ và Thái Lan xử dụng lúc đầu. Chính lính của Vang Pao đã làm hướng đạo cho tổ chức Mặt Trận Hoàng Cơ Minh xâm nhập vào Việt Nam qua ngã Lào. Lúc đó Việt Nam đã phải cho khoảng 2 trung đoàn bộ độ đóng thường trực ở biên giới Lào - Thái, từ Savannakhet đến vùng tam biên, để ngăn chận các lực lượng hải ngoại xâm nhập vào Việt Nam qua ngả Lào.

Theo ước lượng của tổ chức Lao Human Right Council, từ 1975 đến 1992, Pathet Lào đã giết khoảng 300.000 người, trong đó có khoảng 46.000 là viên chức của chính quyền cũ, các công chức, quân nhân và gia đình của họ. Trong thời gian từ 1975 đến 1990, quân đội CSVN và Pathet Lào đã mở những cuộc hành quân liên tục để càn quét những chiến sĩ Hmong còn sót lại.

Cuộc chiến của người Hmong chỉ mới được coi như chấm dứt vào đầu tháng 3 năm 2004. Bản tin bằng tiếng Lào của đài RFA hôm 3.3.2004, cho hay khoảng 300 người Hmong đã ra đầu thú tại Luang Prabang, trong đó có ba người mang cấp bậc cao. Khoảng từ 300 đến 400 ngừơi Hmong khác đã ra đầu thú tại tỉnh Xieng Khouang, trong đó có 5 cấp tướng. Sự việc này đã diễn ra vào cuối tháng hai, sau những chiến dịch vừa bao vây tấn công vừa chiêu hàng của chính phủ cộng sản Lào.

Hôm 4.3.2004, trong một cuộc phỏng vấn của hảng thông tấn AP qua điện thoại, ông Sivone Yayongyia, tỉnh trưởng Xieng Khouang. cho biết khoảng 200 gia đình người Hmong cư ngụ trong tỉnh đã chấp thuận tham gia các chương trình định cư do chính phủ đề ra. Họ sẽ không trồng cây thẩu ở các vùng cao nữa, mà chịu sự quản lý của chính phủ. Ông nói rằng những gia đình đó không liên quan gì với các nhóm nổi lọan chống chính phủ cả.

Tuy nhiên, các nguồn tin khác cho biết trong số những người về quy thuận, có nhiều du kích quân từng chiến đấu từ mấy chục năm qua. Một thủ lãnh Hmong không muốn tiết lộ danh tánh, hiện đang ở vùng biên giới Bắc Thái và có liên lạc thường xuyên với các nhóm nổi dậy bên trong lãnh thổ Lào, đã xác nhận với báo chí tin trên là đúng.

Khi từ bỏ chính sách đối đầu, Hoa Kỳ đã cho các binh sĩ Hmong và gia đình của họ đã đến các trại tỵ nạn ở Thái Lan được sang định cư Hoa Kỳ. Các tổ chức Hmong tại Hoa Kỳ cũng được khuyến khích và giúp đỡ để chuyển từ đấu tranh quân sự qua “đấu tranh chính trị”, tức chỉ “đáng phèng la” như người Việt tỵ nạn. Hiện người Hmong có 3 trung tâm tranh đấu cho nhân quyền ở Lào: một ở Green Bay, Wisconsin; một ở Denver, Colorado; và một ở Minneapolis, Minnesota. Nhưng một số nhỏ chiến sĩ Hmong còn sống sót trong nước, vẫn mong chờ sự yẻm trợ của người Hmong ở hải ngoại để giải phóng Lào khỏi chế độ cộng sản.

Chúng ta nhớ lại, trong năm 2003 đã có nhữngï vụ tấn công xe buýt dọc theo quốc lộ 13 nối liền thủ đô Vạn Tượng với cổ thành Luang Prabang ở phía Bắc, gây ra tình trạng bất ổn. Chính phủ Vientane không hề thừa nhận có những toán nổi dậy, mà chỉ gọi chung đó là “bọn cướp”. Họ cũng không nhìn nhận đã tổ chức nhiều cuộc hành quân truy lùng mà theo các nguồn tin khó kiểm chứng được, trong đó quân đội Việt Nam đóng vai chính.

Vào tháng 5 năm 2003, tờ Asia Times cho biết rằng một nhóm tìm hiểu sự thật, có bản doanh ở Mỹ, đã đưa ra một bản tường trình rằng có 2 sư đoàn quân đội CSVN đã vào Bắc Lào. Từ tháng 2 đến tháng 5, đã có 739 người Hmong bị chết, 615 bị thương và 414 bị bắt.

CHƠI VẬY CHƠI VỚI AI?

Vụ bố ráp để bắt những người Hmong âm mưu lật đổ chính phủ cộng sản Lào bằng quân sự hôm 4.6.2007 cho thấy rằng những người Hmong đấu tranh ở hải ngoại không tin rằng có thể ngồi ở hải ngoại dùng “phèng la” để làm sụp đổ chế độ cộng sản ở trong nước như đa số các tổ chức đấu tranh của người Việt ở hải ngoại đang làm. Họ tin rằng phải thực hiện một cuộc đảo chánh ở trong nước mới có thể làm thay đổi tình thế được và họ nhất quyết thực hiện ý nghĩ đó, mặc dầu những nỗ lực của họ không được luật pháp của Hoa Kỳ và chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận.

Số tiền 9.800.000 USD mà người Hmong ở hải ngoại đã đóng góp cho Phong Trào New Hom do Tướng Vang Pao lãnh đạo cho thấy người Hmong có tinh thần đoàn kết và đấu tranh rất cao.

Với những tổ chức đã từng đứng chung hàng ngũ với Mỹ để chiến đấu, mỗi khi thấy họ có tổ chức hay mưu tính gì không phù hợp với chính sách hay luật pháp của Mỹ, FBI thường tiếp xúc với các nhà lãnh tụ của họ, khuyến cáo nên thay đổi đường lối hoạt động cho phù hợp với tình thế mới. Đây cũng là trường hợp của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, tức Đảng Việt Tân.

Lần này FBI chẳng những không khuyến cáo mà còn phối hợp với tổ chức ATF gài bẩy và bố trí để hốt trọn toàn bộ tổ chức New Hom Movement của người Hmong, kể cả các tài sản của họ. Điều này cho thấy Hoa Kỳ đang có chính sách dứt khoát đối với các tổ chức chống lại các nhà cầm quyền cộng sản ở Đông Dương.

Khi cần thi hành một đường lối như vậy để có thể làm ăn với các nước cộng sản, Hoa Kỳ sẽ viện vào Đạo Luật Trung Lập (Neutrality Act) của liên bang để hành động. Đạo Luật này cấm các công dân Mỹ không được tham gia vào các hoạt động chống lại bất cứ quốc gia nào không đang lâm chiến với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khi cần quậy phá một chính phủ nào đó, Hoa Kỳ sẽ lấy đạo luật đó kê xuống dưới đít ngồi!

Các đạo luật Neutrality Acts đều đã được ban hành từ thập niên 1930s, nhưng trong thập niên 1980s, chính phủ Hoa Kỳ chẳng những không ngăn cản mà còn ngầm yểm trợ các phong trào chống cộng của người Việt và người Hmong ở Mỹ chống lại các chính quyền cộng sản Đông Dương bằng vũ lực, vì lúc đó chủ trương của Hoa Kỳ là làm suy yếu các chính phủ này để lật đổ. Trước đó, Hoa Kỳ cũng đã yểm trợ cho những người Cuba lưu vong tại Mỹ mở cuộc hành quân tấn công vào Vịnh Con Heo ở Cuba ngày 17.4.1961.

Nói tóm lại, đối với Anh Hai Chống Cộng và Anh Hai Nhân Quyền, hợp pháp hay không hợp pháp, không tùy thuộc vào các văn kiện pháp lý đã được ban hành mà tùy thuộc vào chính sách từng giai đoạn của Hoa Kỳ.

Có thể vụ ATF đã gài bẩy và bố ráp để bắt nhóm New Ho Movement một cách rầm rộ như đã nói trên cũng là một cách gởi thông điệp cảnh cáo các phong trào chống cộng ở Mỹ, trong đó có cộng đồng người Việt. Tuy nhiên, nếu Hoa Kỳ đối xử với tổ chức New Hom Movement như vậy, từ nay ai dám chơi với Hoa Kỳ?

Trong cuốn “The Memoirs of Richard Nixon” cựu Tổng Thống Nixon có kể lại rằng trong một chuyến viếng thăm Pakistan, ông có gặp lại người bạn cũ là Tổng Thống Qyuk Kran. Ông ta có nói về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm như sau:

“Tôi không thể biết, có thể lẻ ra các ông không nên ủng hộ ông Diệm từ đầu. Nhưng các ông đã làm như thế, và các ông đã ủng hộ ông ta lâu dài, mỗi người ở Á Châu đều biết đều đó. Dẫu các ông tán đồng hay không tán đồng với ông ta, mọi người đều biết cả. Rồi đột nhiên các ông ngưng ủng hộ ông ta, và ông Diệm bị giết”

Ông ta lắc đầu rồi nói tiếp:

“Việc ám sát Diệm cho những người lãnh đâo Châu Á biết đôi diều: Làm bạn với Mỹ là rất nguy hiễm. Trung lập phải trả giá và đôi khi làm kẻ thù lại có lợi. Lòng tin cậy như sợi dây chỉ mảnh khi nó đẵ đứt thi rất khó nối lại.” (tr. 257).

Trong vụ này, chúng tôi nghĩ rằng công việc trước tiên mà người Việt đấu tranh phải làm là vận động mạnh mẽ để yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ phóng thích những người Hmong vừa bị bắt, vì người Hmong đã từng đứng chung hàng ngũ với VNCH và sát cánh với cộng đồng người Việt hải ngoại trong các cuộc đấu tranh. Phải bảo Anh Hai chớ làm quá.

Người Việt cũng phải học ở người Hmong, biết tổ chức thành hàng ngũ thống nhất và coi việc bí mật xây dựng các phong trào đấu tranh ở trong nước là chính, hải ngoại chỉ yểm trợ, đấu tranh mới có kết quả. Chỉ đánh phèng la thì chẳng đi tới đâu cả. Điều quan trọng là đứng bao giờ giao cả linh hồn và xác cho Anh Hai Cộng Cộng. Chỉ mới được Anh Hai xoa đầu mà đã sướng run lên là hỏng!

Tú Gàn



 


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com