Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

 

Saigon Nhỏ ngày 12.10.2007

 

Tú Gàn

 

Chính sách Ánh Dương

 

Chuyến đi của Tổng Thống Nam Hàn Roh Moo-hyun tới Bình Nhưỡng vào đầu tháng này một lần nữa cho thấy thế giới ngày càng bỏ rơi con đường chống cộng mà đa số người Việt chống cộng đang theo đuổi. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Tàu có “Tam thập lục kế”, còn Phật Giáo có đến 84.000 pháp môn, hay nói đúng hơn, vô lượng pháp, để giải thoát con người. Mỗi người và mỗi đất nước, tùy theo hoàn cảnh của mình để lựa chọn “KÊ” hay “PHÁP MÔN” thích hợp.

THẾ GIỚI KHÔNG CÒN NHƯ TA NGHĨ

Chúng tôi nhớ lại, tháng 3 năm 2003, khi Tổng Thống Hoa Kỳ quyết định mở cuộc hành quân “Operation Iraqi Freedom” tấn công vào Iraq, được nói là để “đem dân chủ” đến cho các nước ở vùng Trung Đông, một số sĩ quan Quân Lực VNCH, trong đó có Tướng Lý Tồng Bá, đã thành lập một đoàn chí nguyện quân, tình nguyện đi đánh Iraq với hy vọng sau Iraq sẽ đến... Việt Nam! Lý Tống đang nằm trong nhà tù ở Thái Lan, cũng “hiệp thông” với cộng đồng ta bên ngoài bằng mấy câu thơ:

9 tháng 4 xe tăng Liên Quân tiến vào trung tâm Baghdad

Giữa tiếng hò reo của nhân dân Iraq

“Hoan hô Bush”, chỉ một Thượng Đế

Và Saddam là kẻ thù của Thượng Đế!

Đầu năm nay, ông Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư Đảng Việt Tân, đã cho xuất bản cuốn “Đông Âu tại Việt Nam” để rút kinh nghiệp cách mạng ở Đông Âu đem áp dụng cho Việt Nam. Theo lời giới thiệu, đây là tác phẩm đã được tác giả nghiên cứu và biên soạn trong 10 năm (1995-2006), dày 600 trang với 10 chương. Đặc biệt, Chương 9 nói về “Việt Nam trước cơn bão dân chủ tại Đông Âu” và Chương 10 nói về “Đông Âu tại Việt Nam”.

Trong cuộc phỏng vấn ngày 6.4.2007 của phóng viên Nguyễn Khanh của đài Á Châu Tự Do, ông Hùng cho rằng “nếu chúng ta biết áp dụng những kinh nghiệm tại Đông Âu để áp dụng cho bài toán đấu tranh ngày hôm nay tại Việt Nam thì chuyện Đông Âu tại Việt Nam có thể xảy ra trong thời gian trước mắt.”

Trong những tuần qua, nhiều người Việt chống cộng lại phấn khởi khi thấy các nhà sư Miến Điện xuống đường chống chế độ độc tài quân phiệt. Họ đưa ra những khẩu hiệu với niềm xác tín: “Giặc đến nhà chùa giặc sẽ tan hay “Sau Miến Điện sẽ đến Việt Nam”, v.v.

Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC hôm 28.9.2007 về biến cố đang xẩy ra ở Miến Điện, ông Nguyễn Thanh Giang có nói:

“Những người Việt Nam nói chung tôi được giao tiếp, gặp gỡ mấy hôm này thấy tình hình Miến Điện đều phấn khởi, hy vọng... Có khi sự lạc quan của chúng tôi được tạo dựng bởi sự mong đợi tha thiết quá trong một thời gian lâu dài, thành ra bất cứ một niềm hy vọng nào lóe nhỏ cũng khiến chúng tôi thấy trong tim mình bốc lên thành ngọn lửa cháy sáng. Và tôi nghĩ cái gì cũng phải đổi bằng cái giá của nó.”

Trong suốt 32 năm qua, đa số người Việt chống cộng đã suy nghĩ và hành động theo cảm tính như thế và thường coi ước muốn là hiện thực, nên thường bị biến thành công cụ cho những chiến dịch nhất thời và sau đó bỏ lại đàng sau, đó là chuyện bình thường. Nhưng ông Lý Thái Hùng, một lãnh tụ Đảng Việt Tân, một “nhà chiến lược” của Đảng mà không phân tích được tình hình một cách chính xác và đưa ra những đề nghị thích hợp, cứ tiếp tục nhai lại những luận điệu cũ rích, làm sao giải phóng đất nước được?

Hiện nay trên thế giới còn lại 4 nước theo chế độ cộng sản là Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba. Sau chiến tranh lạnh, các cường quốc Tây phương, nhất là Hoa Kỳ, đã đưa ra những kế hoạch áp dụng riêng cho từng nước, để đưa cả 4 nước này chuyển dần từ chế độ cộng sản qua chế độ tư bản và phục vụ quyền lợi của họ. Trong hiện tại, không cường quốc nào nghĩ rằng có thể áp dụng kế hoạch “Đông Âu tại Việt Nam”. “Đông Âu tại Trung Quốc”,Đông Âu tại Cuba” hay “Đông Âu tại Bắc Hàn”... như ông Lý Thái Hùng đang mơ màng.

Cứ xem chuyến đi Bình Nhưỡng vừa qua của Tổng Thống Nam Hàn Roh Moo-hyun, chúng ta sẽ thấy phương thức cải biến Bắc Hàn mà các nước Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ, đang áp dụng, hoàn toàn khác xa với những gì mà người Việt đang làm.

XÁC ĐỊNH VỀ CHỮ NGHĨA

Trước khi đi vào vấn đề chính, xin nói qua về chữ nghĩa được dùng để tránh cãi nhau: Chữ Korea thường được đọc theo phiên âm từ Hán ra Việt là Triều Tiên (có nghĩa là "(xứ) Buổi sáng tươi đẹp") hay Cao Ly. Chữ Hanguk được phiên âm theo Hán - Việt là Đại Hàn. Trong tiếng Korean, chữ Korea hay chữ Hanguk đều bao gồm toàn bộ bán đảo này. Nhưng một thời, người Việt hay dùng chữ Triều Tiên để chỉ phần đất phía bắc vĩ tuyến 38 (theo chủ nghĩa cộng sản) và Hàn Quốc để chỉ phần đất ở phía nam. Ngày nay, ta dùng chữ Hàn Quốc (Hanguk) để chỉ toàn thể bán đảo Korea, Nam Hàn (Namhan) để gọi phần đất phía nam và Bắc Hàn (Bukhan) để gọi phần đất phía bắc.

Đó không phải “danh từ Việt Cộng” hay “danh từ Quốc Gia” như nhiều người thường cãi cọ. Tàu đô hộ Việt Nam đến 1000 năm nên văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn văn hóa Tàu, nhất là về ngôn ngữ. Theo sự phân tích của các nhà ngữ học, cứ 7 tiếng Việt là có 5 tiếng Tàu (được Hán – Việt hóa). Nhiều người không chịu nghiên cứu về ngôn ngữ, cứ la hoảng “chữ Việt Cộng” và “chữ Quốc Gia”! Thật ra, đó là chữ Tàu được ông cha ta Hán - Việt hóa để dùng, vì ta thiếu chữ. Rất cám ơn ông cha ta. Ngày nay ta vẫn phải tiếp tục Hán – Việt hóa như thế để có chữ xài.

VÀI NÉT LỊCH SỬ

Ngày 10.8.1945, Thế Chiến II chấm dứt và cũng chấm dứt luôn 35 năm thống trị của Nhật (1910- 1945) trên bán đảo Đại Hàn. Lúc đó Liên Sô và Hoa Kỳ đồng ý lấy vĩ tuyến 38 làm đường phân giới tạm thời, Liên Sô chiếm đóng phía Bắc vĩ tuyến 38 còn Hoa Kỳ phía Nam. Tháng 12 năm 1945, Hoa Kỳ và Liên Xô thỏa thuận quản lý Đại Hàn dưới hình thức một Ủy Ban Hỗn Hợp Hoa Kỳ-Liên Xô. Đại Hàn sẽ được độc lập sau bốn năm dưới sự giám sát quốc tế. Nhưng sau đó Hoa Kỳ và Liên Sô không thỏa thuận về cách thức áp dụng chế độ Đồng Ủy Trị cho cả nước Đại Hàn, nên hai bên đã thành lập các chính phủ riêng biệt: Bên miền Bắc do Kim Nhật Thành làm Chủ Tịch, còn bên miền Nam do Lý Thừa Vãn, một người tốt nghiệp 3 đại học Georgetown, Harvard và Princeton của Hoa Kỳ làm Tổng Thống.

Hoa Kỳ kêu gọi tổ chức bầu cử giữa hai miền để thống nhất đất nước, nhưng Liên Sô biết rằng Kim Nhật Thành sẽ bị thất cử vì miền Bắc ít hơn, nên từ chối. Sau đó, cả Tổng Thống Lý Thừa Vãn lẫn Tổng Chủ Tịch Kim Nhật Thành đều có ý định thống nhất bán đảo dưới hệ thống chính trị của mình.

Đến năm 1950, quân đội Bắc Hàn đã được trang bị bằng vũ khí của Liên Sô, tuy đã lỗi thời nhưng vẫn có lợi thế vượt trội lực lượng Nam Hàn, vì có cả máy bay, xe tăng và đại bác. Trong khi đó, Nam Hàn chỉ được Mỹ trang bị vũ khí nhẹ. Ngày 30.1.1950, Stalin thông báo cho Kim Nhật Thành hay rằng Liên Sô sẵn lòng giúp Kim Nhật Thành trong kế hoạch thống nhất Triều Tiên.

Ngày 25.6.1950 quân đội Bắc Hàn vượt vĩ tuyến 38, với 242 xe tăng bao gồm 150 xe tăng T-34 của Liên Sô chế tạo, và khoảng 180 máy bay, gồm có 40 máy bay tiêm kích YAK và 70 máy bay ném bom, mở cuộc tấn công Nam Hàn. Trưa ngày 28.6.1950, các lực lượng Bắc Hàn chiếm được Seoul.

Ngay trong ngày 25.6.1950, khi chiến tranh bắt đầu, Liên Hiệp Quốc đã kêu gọi chấm dứt tất cả các hành động thù địch và Bắc Hàn phải rút lui về phía bắc vĩ tuyến 38. Ngày 27.6.1950 Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu thông qua nghị quyết giúp Nam Hàn. Liên Sô váng mặt nên không thể phủ quyết. Ngay lập tức, Tổng thống Truman ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược đến cho quân đội của Nam Hàn. Nhưng vào tháng 8, các lực lượng Nam Hàn và Quân Đoàn 8 Hoa Kỳ bị quân Bắc Hàn đẩy lui vào một vùng nhỏ ở đông nam của bán đảo Nam Hàn, quanh thành phố Pusan. Đến tháng 9, chỉ còn khoảng 10% bán đảo nằm trong tay lực lượng LHQ mà thôi.

Hoa Kỳ liều điều động cấp bách các tiểu đoàn xe tăng từ San Francisco vào Đại Hàn. Đầu tháng 9, các lực lượng Liên Hiệp Quốc và Nam Hàn được tăng cường lên đến 180.000 quân so với Bắc Hàn chỉ có 100.000 quân. Tướng MacArthur, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Quốc tại Đại Hàn, đã ra lệnh đổ bộ từ biển vào bờ xa phía sau phòng tuyến của Bắc Hàn tại Inchon, gần Seoul. Quân Bắc Hàn gần như bị cắt đứt, nhanh chóng rút lui về phía Bắc. Sau đó, các lực lượng còn lại của Hoa Kỳ với quân Nam Hàn tiến vào phía bờ tây của Đại Hàn và chiếm được Bình Nhưỡng ngày 19 tháng 10. Vào cuối tháng 10, quân LHQ tiến tới sông Áp Lục (Yalu River), ranh giới giữa Trung Quốc và Đại Hàn. Quân đội Bắc Hàn nhanh chóng tan rã, một phần vượt sông Áp Lục chạy qua Trung Quốc và khoảng 135.000 bị lực lượng LHQ bắt làm tù binh.

Trung Quốc sợ lực lượng Hoa Kỳ và LHQ tràn qua sông Áp Lục, nên ngày 25.10.1950 đã cho 270.000 quân dưới quyền tư lệnh của tướng Bành Đức Hoài tiến đánh lực lượng Hoa Kỳ và LHQ đóng dọc theo sông Chongchon và tràn ngập một số sư đoàn của Nam Hàn.

Tháng 1 năm 1951, các lực lượng Trung Quốc và Bắc Hàn mở cuộc tiến công tiếp theo. Các lực lượng LHQ không kháng cự nổi, phải rút về miền Nam. Seoul bị bỏ lại và bị các lực lượng cộng sản chiếm được vào ngày 4.1.1951. Sau đó, lực lượng Hoa Kỳ và LHQ phản công chiếm lại.

Một cuộc thương thuyết bắt đầu vào ngày 10.7.1951 tại Bàn Môn Điếm, kéo dài trong hơn ba năm, đến ngày 27.7.1954, lực lượng Liên Hiệp Quốc với Quân Đội Bắc Hàn và Trung Quốc đã ký kết thoả ước đình chiến, chấm dứt chiến tranh. Một vùng phi quân sự tạm thời được thiết lập trên vĩ tuyến 38, phân chia hai nước. Nhưng Nam Hàn không ký tên.

CHẾ ĐỘ BẮC HÀN

Bắc Hàn có tên chính thức là Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên, nằm trải dài trên 1,100 kilômét, với diện tích 120.538 km2, gồm 2 thành phố trực thuộc trung ương, 3 vùng đặc biệt và 9 tỉnh.

Về chình trị: Bắc Hàn do do Kim Nhật Thành (Kim Il-sung) lãnh đạo từ năm 1948. Ông sinh ngày 15.4.1912, đã từng tham gia cuộc chiến du kích chống lại quân Nhật ở Mãn Châu trong suốt thập niên 30. Khi đất nước bị chia đôi, ông thâu tóm quyền lực ở Bắc Hàn và giữ nó trong suốt 46 năm tiếp theo.

Chủ nghĩa được Kim Nhật Thành áp dụng tại Bắc Hàn gần gióng chủ nghĩa Stalin, do Đảng Lao động Triều Tiên (Korea Workers' Party - KWP) lãnh đạo. Nhưng KWP phủ nhận rằng họ là một quốc gia Mácxít – Lêninít. Hiến Pháp 1977 gọi chủ nghĩa áp dụng tại Bắc Hàn là Juche, một triết lý dân tộc tự lực tự cường (self-reliance or self-dependence). Trong thực tế, Kim Nhật Thành Kim nắm giữ gần như toàn bộ quyền lực chính trị của đất nước, tương tự như Mao Trạch Đông của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Kim đánh bóng tên tuổi ca nhân. Tất cả dân Bắc Hàn phải gọi ông ta là “Nhà lãnh tụ vĩ đại”.

Trong Hiến Pháp được ban hành vào tháng 12/1972, Kim Nhật Thành quyết định con trai ông là Kim Chánh Nhật (Kim il Jong) sẽ thay thế ông. Trong Đại Hội Đảng lần VI vào tháng 10/1980, Kim giao quyền cho con trai. Ông qua đời đột ngột do đau tim tại Bình Nhưỡng vào ngày 8.7.1994.

Về kinh tế: Bắc Hàn được tổ chức theo mô hình trung ương tập quyền. Tất cả xưởng máy và ruộng đất đều nằm trong tay nhà nước hay hợp tác xã.

Kinh tế Bắc Hàn đã rơi vào tình trạng trì trệ từ thập niên 1970. Nền công nghiệp bao cấp lạc hậu đã sản xuất ra gần như toàn bộ hàng hoá tiêu thụ. Chính phủ lại tiếp tục chú trọng vào công nghiệp nặng về quân sự. Theo số liệu ước tính năm 2005, chính phủ đã chi tiêu 25% GDP quốc gia cho quân sự, trong khi Nam Hàn chỉ xử dụng có 2,5%.

Tinh thần tự cường làm cho đất nước cắt đứt thương mại với thế giới. Sự tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Sô trong những năm 1989 - 1991, đã làm cho Bắc Hàn hoàn toàn bị cách ly.

Trong thập niên 1990, nhiều thiên tai đã xảy ra ở Bắc Hàn, quản lý chính trị và kinh tế yếu kém, những vụ tham nhũng... đã đưa tới nạn đói ở Bắc Hàn, giết chết khoảng 3.500.000 người. Tới năm 1999, lương thực cứu trợ nhân đạo của thế giới đã làm giảm số người chết vì nạn đói. Tuy nhiên, vì Bắc Hàn tiếp tục chương trình vũ khí hạt nhân nên viện trợ quốc tế giảm sút.

Ngày 19.12.2005, Bắc Hàn đã được hứa viện trợ lương thực và nhiên liệu (cùng với những thứ khác) từ Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, và Trung Quốc để đổi lấy việc từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân.

Tháng 7 năm 2002, Bắc Hàn bắt đầu thử nghiệm mô hình kinh tế tư bản ở Khu công nghiệp Khai Thành, nhờ vậy GDP đã tăng 1,2% năm 2002 và 1,8 % năm 2003. Các con số tương tự cũng được đưa ra cho năm 2004 và 2005.

Trong khi đó, kinh tế Nam Hàn tiến những bước rất dài trong 50 năm qua, từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp nghèo đói đã chuyển mình thành một quốc gia kỹ nghệ tiên tiến đứng hàng thứ 10 trên thế giới.

Về nhân quyền: Tổ chức Ân xá quốc tế và các tổ chức nhân quyền khác buộc tội Bắc Hàn có hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất trong số tất cả các nước trên thế giới: hạn chế nghiêm khắc đa số các quyền tự do, gồm tự do ngôn luận và tự do di chuyển, cả trong và ngoài nước. Sau một khoảng thời gian do dự, Kim Nhật Thành cũng thực hiện một chính sách thanh lọc cực kỳ tàn bạo, đẩy các phần tử chống đối đi lưu đày.

Vì các tin tức từ Bắc Hàn đều bị bít kín, nên khó biết được chính xác những gì đã xẩy ra ở đó. Những người tỵ nạn cho biết các trại giam ở Bắc Hàn chứa khoảng 150.000 đến 200.000 người. Họ bị lao động cưởng bức, thiếu ăn, bị hãm hiếp hay bị giết hại. Những người tù cũ cho biết trong một số trại, tỷ lệ chết hàng năm lên tới 25%. Một cựu cai tù và là sĩ quan tình báo quân đội nói rằng trong một trại, các loại vũ khí hoá học đã được đem ra thử nghiệm trên tù nhân trong một phòng hơi độc. Theo một cựu tù nhân, phụ nữ có thai trong các trại giam thường bị buộc phải phá thai hoặc đứa trẻ mới sinh sẽ bị giết.

Bản tin của hãng thông tấn Asia News ngày 28.2.2004 cho biết tình trạng mà những người Kitô hữu Bắc Hàn phải gánh chịu tiêu biểu cho những điều kiện bi thảm về nhân quyền tại đây. Ông Soon-Ok Lee, một cựu tù nhân trong một trại cải tạo của Bắc Hàn cho biết tất cả những người già trong một làng giáp giới với Trung quốc đã bị giết vào năm 2000 vì không chịu bỏ đạo theo lệnh của công an. Theo ông Lee, các tù nhân là Kitô hữu bị đối xử hà khắc hơn rất nhiều so với các tù nhân khác trong các trại cải tạo.

Một nhà truyền giáo người Nhật cho biết rằng công an Bắc Hàn được phía Trung Quốc cho phép lùng sục để bắt những người đối lập và những người hoạt động tôn giáo đang tạm trú trên đất Trung Quốc. Có khoảng 100.000 đến 300.000 người Bắc Hàn đang sống trên đất Trung Quốc. Một trường hợp điển hình là trên đất Trung Quốc, cách biên giới Bắc Hàn 20 km, tại huyện Yanji, tỉnh Jilin, nhà cầm quyền Bắc Hàn với sự hợp tác của Trung Quốc đã xây dựng một nhà thờ giả để nhử bắt những Kitô hữu người Bắc Hàn. Những người nào đã tiếp xúc với các nhà truyền giáo Nam Hàn, hay đã đọc Thánh Kinh, hay đã tham gia sinh hoạt tôn giáo đều bị kết án nhiều năm tù, thậm chí cả tử hình.

Theo một ước lượng đáng tin cậy, hiện nay tại Bắc Hàn có tổng cộng hơn 100.000 Kitô hữu trong tổng số 24 triệu dân. Trong số đó, người Công Giáo có khoảng 4.000. Khi cộng sản chiếm miền Bắc vào năm 1953, 300,000 Kitô hữu tại Bắc Hàn đã biến mất trong các trại cải tạo và đến nay không còn linh mục hay nữ tu nào sống sót.

Vế khủng bố: Năm 1987, Bắc Hàn đã yẻm trợ cho bọn khủng bố làm nổ chuyến bay KAL 858 và năm 1970, Bắc Hàn đã cung cấp nơi trú ẩn cho bọn không tặc thuộc tổ chức Liên Đoàn Cộng Sản Nhật cướp chiếc máy bay của hãng hàng không Japan Airlines bay đi Bắc Hàn. Tháng 1 năm 2002, Tổng Thống Bush gọi Bắc Hàn là thành viên “trục ma qủy” vì tham vọng hạt nhân của nước này.

CON ĐƯỜNG CỦA CÁC ĐÀN ANH

Mặc dầu chế độ và tình trạng nhân quyền tại Bắc Hàn tồi tệ như vậy, Nam Hàn, các cường quốc Tây Phương cũng như Giáo Hội Công Giáo, đã bỏ ngoài tai tiếng gào thét của các Thầy Giảng Kinh Chống Cộng trên các đài phát thanh hay diễn đàn Internet, ra lệnh phải đánh phèng la lớn lên, không đánh phèng la là “đồng lỏa với tội ác”, có lẽ vì họ đã nhận ra rằng kế đánh phèng la này chẳng có hiệu quả gì cả. Phải áp dụng những kế khác trong “Tam thập lục kế” mới làm biến mất chủ nghĩa cộng sản ở Bắc Hàn được.

Chúng ta nhớ lại, năm 1998, khi Tổng Thống Kim Đại Trọng (Kim Dae-jung) lên nắm quyền, ông đã đưa ra “Chính sách Ánh Dương” (Sunshine Policy), chủ trương đẩy mạnh đối thoại với Bắc Hàn.

Năm 2000, sau cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên của hai bên được tổ chức ở Bình Nhưỡng, ngày 13.10.2000, Ủy Ban Giải Nobel đã tuyên bố tặng Giải Nobel Hòa Bình cho Tổng Thống Kim Đại Trọng vì: “Qua Chính sách Ánh Dương, ông Kim Đại Trọng đã cố gắng vượt qua hơn 50 năm chiến tranh và thù nghịch giữa Bắc Hàn và Nam Hàn. Cuộc viếng thăm Bắc Hàn của ông thúc đẩy tiến trình làm giảm bớt căng thẳng giữa hai quốc gia.”

Tuy nhiên, “Chính sách Ánh Dương” đã bị ngưng lại vào tháng 10 năm 2002, khi Hoa Kỳ loan báo Bắc Hàn lén lút tái tục chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân.

Nay Tổng Thống Roh Moo-hyun lại đi đường bộ cùng với một đoàn xe gồm các quan chức, các nhà doanh nghiệp, nhà thơ và tăng lữ, vượt qua đường biên giữa hai nước để đến thăm Bắc Hàn trong 3 ngày. Trong phái đoàn có Đức Giám Mục John Chang, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Nam Hàn. Tại biên giới, Tổng Thống Roh Moo-hyun tuyên bố: “Tôi hy vọng sau tôi, nhiều người sẽ đi qua đường biên như thế này. Ranh giới này sẽ dần được xóa bỏ và bức tường sẽ không còn.''

RỐI ĐƯỢC NHỮNG GÌ?

Cho dù đã nhận hàng tỷ đôla tiền viện trợ kể từ cuộc hội đàm cao cấp cách đây 7 năm, Bắc Hàn vẫn còn là một nước nghèo nàn và bị cô lập.

Tháng 5 vừa qua, lần đầu tiên chính quyền Bắc Hàn đã cho phép phái đoàn Công Giáo Nam Hàn viếng thăm các bệnh viện nhi đồng trị bệnh lao phổi và được tiếp xúc với các bác sĩ và bệnh nhân.

Linh Mục Gerald Hammond, một trong 5 thành viên của phái đoàn Công Giáo Nam Hàn, đã xác nhận với hãng Asia News rằng từ ngày 12.5.2007, phái đoàn đã được viếng thăm Bình Nhưỡng, Nampo, và vùng tây nam tỉnh Pyengan. Linh mục tuyên bố: “Tôi tin chúng tôi được đi thăm Bắc Hàn lần này là một ơn Chúa.”

Hiện nay, tình trạng bệnh lao ở Bắc Hàn đang gia tăng ở mức độ đáng lo ngại nên cần có sự trợ giúp từ bên ngoài. Khoảng 10% dân chúng Bắc Hàn bị bệnh lao phổi trong đó có đến 30% bênh nhân đã lờn thuốc, cần phương pháp chửa trị tối tân và lâu dài mới cứu được, nên Bắc Hàn phải kêu cứu Giáo Hội Công Giáo giúp.

Tuyên bố chung ngày 4.10.2007 giữa Chủ Tịch Bắc Hàn và Tổng Thống Nam Hàn kêu gọi các nước liên quan mở cuộc họp, trong đó có Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai nước đã cùng Bắc Hàn, ký thỏa ước đình chiến năm 1953.

Hai bên cũng đồng ý nối lại đường xe lửa chở hàng qua khu vực biên giới. Một số lãnh vực khác cũng đã được thỏa thuận như thành lập khu vực đánh cá chung tại vùng biển tranh chấp và mở hội đàm cấp cao thường xuyên, các gia đình bị chia rẽ khi hai miền phân cách cũng sẽ có điều kiện đoàn tụ nhiều hơn, v.v.

Bắc Hàn đã từng tuyên bố mong muốn tiến tới thống nhất giữa hai miền Nam - Bắc không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, thông qua cơ cấu liên bang, duy trì bộ máy lãnh đạo và hệ thống của mỗi bên. Nhưng từ đề nghị này của Bắc Hàn đến việc thực hiện một chế độ thống nhất như thế, còn phải trải qua nhiều cuộc thương thuyết và nhiều khó khăn.

Người Việt chống cộng mong muốn tiêu diệt Cộng Sản càng sớm càng tốt, nếu được thì ngay ngày hôm nay, mặc dầu chỉ còn lại cái phèng la. Các cường quốc Tây Phương cũng như Nam Hàn lại tính toán khác. Kế hoạch “tư bản hóa cộng sản” được dự trú có khi 5 năm, 10 năm, 15 năm hay 20 năm... Một viên chức cấp cao của Nam Hàn đã nói:

"Chúng tôi có một cơ chế thống nhất rõ ràng. Thống nhất từ từ, từng bước vì nếu thống nhất nhanh sẽ gây đối đầu... Để làm được điều đó cần thúc đẩy hội nhập, hoà nhập, mở cửa kinh tế và cởi mở hơn về chính trị..."

Trong bước đầu, Nam Hàn chỉ nhắm các mục tiêu cụ thể sau đây:

1.- Tạo sự cảm thông và truyền thông giữa dân chúng hai miền. Tài liệu thống kê cho biết, tính riêng năm 2005, tổng số người Nam - Bắc Hàn thăm viếng lẫn nhau lên đến 88.341 người, trong khi tổng số thăm viếng của 15 năm trước đó chỉ là 85.400 người. Số người đi du lịch cũng tăng lên.

2.- Xử dụng nhân công rẻ của Bắc Hàn để sản xuất hàng hóa, thay vì dùng nhân công của Trung Quốc hay Việt Nam như từ trước đến nay. Muốn vậy, trước tiên Nam Hàn phải hổ trợ Bắc Hàn xây dựng các cơ sở hạ tầng như tái thiết bến tàu, đường giao thông, các khu công nghiệp...

3.- Đưa Bác Hàn dần vào khuôn khổ của luật pháp khi làm ăn chung. Không thể để Bắc Hàn sống ngoài vòng các nguyên tắc căn bản của luật pháp như hiện nay.

Một viên chức cao cấp Nam Hàn đã nói:

’’Nếu một ngày hai miền thống nhất, Đại Hàn sẽ là một quốc gia lớn, với dân số khoảng gần 70 triệu người, quy mô nền kinh tế cũng tăng lên rất nhiều và đặc biệt Đại Hàn có một lực lượng quân sự hùng hậu nhất nhì khu vực Đông Á.”

 

Tú Gàn

 


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com