Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

 


 

Bình luận thời sự

Nghiên-cứu về chủ-quyền Hoàng-Sa và Trường-Sa.

 Trương Nhân Tuấn

Tài-liệu này trích từ chương thứ 6 của quyển « Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000 » của tác-giả Trương Nhân Tuấn. Nguyên-bản là tập tài-liệu bằng Pháp-ngữ có tựa đề « Les Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa Territoire Vietnamien » do Bộ Ngoại-Giao Việt-Nam phát-hành 1981, lưu-trữ tại Trung-Tâm Văn-Khố Hải-Ngoại Pháp (CAOM, Aix-En-Provence, Pháp-Quốc) dưới mã-số Br 14.279. Tập tài-liệu gồm 2 phần : Phần 1 có tựa-đề : Hoàng-Sa và Trường-Sa là Lãnh-Thổ của Việt-Nam. Phần 2 có tựa đề : Hoàng-Sa và Trường-Sa chưa bao giờ là  lãnh-thổ của Trung-Quốc.

Phần thứ nhất bao gồm nhiều công-trình nghiên-cứu của các học-giả Việt-Nam công-bố trước năm 1975, như trong tập-san « Sử-Địa số 29 ». Phần thứ hai nội-dung nhằm phản-biện luận-điệu của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc công-bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 nhằm dành chủ-quyền tại Hoàng-Sa và Trường-Sa. Tác-giả tạm-dịch, bổ-tức và cập-nhật một số chi-tiết trong tập tài-liệu này và phô-biến như một bài viết nhân việc tranh-chấp chủ-quyền giữa hai nước Việt-Nam và Trung-Quốc đột-ngột căng-thẳng sau vụ biểu-tình của sinh-viên học-sinh trước tòa đại-sứ và lãnh-sự Trung-Quốc tạ Hà-Nội và Sài-Gòn vào đầu tháng 12 năm 2007.

 

Phần 1 : Hoàng-Sa và Trường-Sa là lãnh-thổ của Việt-Nam

    I. Chiếu theo sử-liệu Việt-Nam :

        Dân-tộc Việt-Nam từ lâu đã khám-phá Hoàng-Sa và Trường-Sa. Quốc-gia Việt-Nam đã chiếm-hữu và hành-sử chủ-quyền của mình tại các nơi đây. Nhiều bộ cổ-sử và nhiều bản-đồ xưa của Việt-Nam đã ghi-nhận một cách rõ-rệt rằng Bãi Cát Vàng, Hoàng-Sa, Vạn-Lý Hoàng-Sa, Ðại Trường-Sa hay Vạn-Lý Trường-Sa đã từ lâu là lãnh-thổ của Việt-Nam.

    - Bộ Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư, là bộ bản-đồ của Việt-Nam do Ðỗ-Bá, tự Công-Ðạo, thành-lập vào thế-kỷ thứ 17, đã ghi đại-ý rất rõ-rệt trong phần phụ-chú phủ Quảng-Ngãi, tỉnh Quảng-Nam rằng: “ngoài biển khơi có một quần-đảo với những bãi cát dài, được gọi là Bãi Cát Vàng”, “mỗi năm vào tháng cuối mùa đông, Chúa Nguyễn[1] phái ra đó một hải-đội gồm 18 chiếc thuyền để thu-nhặt hàng-hóa, nhờ vậy mới có được một số-lượng lớn vàng, bạc, tiền, súng-ống và đạn-dược”.

    - Bản-đồ Giáp-Ngọ Bình Nam Ðồ do Ðức-Doãn Quận-Công Bùi Thế Ðạt thiết-lập năm 1774 cũng có ghi-nhận Bãi Cát Vàng là một phần lãnh-thổ Việt-Nam.[2]

    - Tác-phẩm Phủ-Biên Tạp-Lục của nhà bác-học Lê Quí Ðôn (1726-1784) viết về lịch-sử, địa-lý và hành-chánh của Ðàng Trong (miền Nam hiện nay) dưới thời Chúa Nguyễn, viết rằng những đảo Ðại Trường-Sa (tức Hoàng-Sa và Trường-Sa) thì thuộc về phủ Quảng-Ngãi:

Ngoài khơi cửa An-Vĩnh[3] thuộc huyện Bình-Sơn, phủ Quảng-Ngãi, có một đảo tên là đảo Ré, chiều dài khoảng 30 dặm[4]. Ngày xưa, dân làng Tu-Chính ra trồng đậu tại đó. Người ta vượt biển đến đó mất bốn canh (một đêm có năm canh). Phía xa hơn đảo Ré là những đảo Ðại Trường-Sa. Ở đó có nhiều hải-sản và hàng-hóa các loại. Công-Ty Hoàng-Sa được thành-lập để ra đó thu-nhặt đồ vật. Phải mất ba ngày ba đêm để đến những đảo nầy, đây là vùng gần Bắc Hải”.

    - Ðại-Nam Nhất-Thống Toàn Ðồ là bản-đồ Việt-Nam thành-lập năm 1838, có ghi nhận Hoàng-Sa và Trường-Sa là một phần lãnh-thổ của Việt-Nam.

    - Ðại-Nam Nhất Thống Chí, địa-dư chí của Việt-Nam được Quốc-Sử Quán nhà Nguyễn (1802-1945) viết năm 1882, ghi-nhận rằng Hoàng-Sa thuộc lãnh-thổ Việt-Nam và trực-thuộc hành-chánh tỉnh Quảng-Ngãi. Ðoạn văn liên-hệ viết về tỉnh nầy như sau:

Ở phía Ðông của tỉnh Quảng-Ngãi thì có những đảo cát gọi là Hoàng-Sa; nơi đây cát và biển kết-lẫn vào nhau để tạo thành bờ triền; phía Tây là vùng núi dựng như là những tường-thành chắc-chắn; phía Nam tiếp-giáp với Bình-Ðịnh ở đèo nằm ngang thuộc Bến Ðá; phía Bắc tiếp-cận với tỉnh Quảng-Nam ở đèo Sa-Thọ”.

     Từ nhiều thế-kỷ đã qua, nhiều nhà hàng-hải và truyền-giáo tây-phương đã xác-nhận rằng Hoàng-Sa (Parcel hay Paracels) thì thuộc về Việt-Nam:

    - Một nhà truyền-giáo tây-phương, đi từ Pháp đến Trung-Hoa năm 1701 trên chiếc thuyền tên Amphitrite, đã viết trong một lá thư như sau: “Hoàng-Sa là một quần-đảo thuộc vương-quốc An-Nam[5].

    - Linh-mục J. B. Chaigneau (Bá-Ða-Lộc), cố-vấn của vua Gia-Long, năm 1820 có viết một phụ-chú thêm vào trong bút-ký “Mémoire sur la Cochinchine”[6]:

    “Nước Nam (Cochinchine), đứng đầu là vị Hoàng-Ðế, gồm có Cochinchine (tức miền Nam), Tonkin (miền Bắc)... một số đảo có người sinh-sống không xa bờ và quần-đảo Hoàng-Sa (Paracels), gồm có nhiều đảo nhỏ, đá, bãi san-hô... không có người ở[7]

    - Linh-mục J. L. Tabert, trong “Ghi-nhận về Ðịa-Lý Việt-Nam” (Note sur la géographie de la Cochinchine), xuất-bản năm 1837, đã trình-bày quần-đảo Hoàng-Sa là một phần của lãnh-thổ Việt-Nam và ghi rõ thêm rằng Việt-Nam gọi “Paracels” hay “Pracel” dưới tên là Cát Vàng[8].

    Bản-đồ An-Nam Ðại-Quốc Họa Ðồ của ông năm 1838 có vẽ một phần của quần-đảo Hoàng-Sa với phụ-chú : “Paracel hay Cát Vàng”, ở phía ngoài những đảo cận bờ của miền Trung Việt-Nam, tức ở vào vị-trí của Hoàng-Sa hiện-tại.

    - Qua bài viết “Géographie de l’Empire Cochinchine” của Gutzlaff năm 1849 trong đó có một đoạn ghi-nhận rằng Paracels thuộc lãnh-thổ Việt-Nam, có tên là “Kat Vang”[9].

    Các triều-đại vua chúa cai-trị Việt-Nam trong nhiều thế-kỷ qua đã phái nhiều đội thuyền để thám-hiểm nhằm thẩm-định tài-nguyên ở Hoàng-Sa và Trường-Sa. Những bộ sử và địa-dư chí của Việt-Nam từ thế-kỷ thứ 17 đã ghi lại kết-quả của những cuộc thám-hiểm này:

    - Toản Tập Thiên-Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư (thế-kỷ thứ 17) đại-ý viết:

    “Ngoài biển khơi có một quần-đảo kết-tạo bằng những dải cát dài, có tên “Bãi Cát Vàng”, độ dài khoảng 400 dặm và rộng khoảng 20 dặm, nổi lên từ biển sâu, đối-diện với đoạn bờ biển từ bến Ðại-Chiêm[10] đến bến Sa-Vinh[11]. Vào mùa gió Tây-Nam, những thương-thuyền của các nước đi ngang vùng nầy thường bị đắm, người đi trên thuyền bị chết đói, hàng-hóa dồn đống ở nơi đó.” [12]

    - Lê Quí Ðôn (1776) viết trong Phủ Biên Tạp Lục đại-ý như sau:

    “Làng An-Vĩnh, thuộc huyện Bình-Sơn, phủ Quảng-Ngãi ở cận biển. Ngoài khơi làng này, về hướng Ðông-Bắc, có trên 130 đảo trải dài, lớn nhỏ hay đá ngầm, từ đảo nầy qua đảo khác khi thì mất một ngày, khi thì mất vài canh bơi thuyền. Trên một vài đảo thì có nước ngọt. Một trong những đảo đó có tên Bãi Cát Vàng, có chiều dài ước-lượng 30 dặm, mặt đảo bằng-phẳng, tọa-lạc ở một vùng nước rất trong; nơi  đây có rất nhiều ổ yến. Chim-chóc nhiều vô số kể và chúng tấn-công người không sợ-hãi. Người ta cũng gặp rất nhiều sò-ốc quái-dị, có mầu sắc sặc-sở gọi là ốc tai-tượng, lớn bằng cái nia và dấu trong thân những hạt to bằng ngón tay, màu đục nhưng không đẹp như ngọc trai; vỏ ốc người ta có thể đẻo ra từng miếng hay dùng để chế-biến vôi làm nhà. Cũng có những loại ốc xa-cừ dùng để chạm trổ và ốc hương. Thịt ốc có thể muối hay dùng làm nhiều món ăn. Những thương-thuyền ngoại-quốc bị gặp bão ở vùng biển thì thường bị đắm và trôi dạt vào ở những đảo này”.

    - Ðại-Nam Thực-Lục Tiền Biên, là một quyển lịch-sử nói về các Chúa Nguyễn, do Quốc-Sử Quán viết năm 1844 (nhà Nguyễn) viết đại-ý như sau:

    “Ngoài khơi làng An-Vĩnh huyện Bình-Sơn phủ Quảng-Ngãi có hơn 130 đảo và đá ngầm lớn nhỏ, trải dài hàng ngàn dậm nên gọi là Vạn-Lý Trường-Sa; khoảng cách từ đảo này đến đảo kia độ một ngày hoặc vài canh đi thuyền. Trên một vài đảo có giếng nước ngọt. Sản-phẩm ở đây gồm hải-sâm, rùa, đồi-mồi, sò ốc có hình-dạng  và màu sắc sặc-sở v.v...”

 

    - Ðại-Nam Nhất Thống Chí (1882) có ghi đại-ý:

    “Quần-đảo Hoàng-Sa  ở phía Ðông của cù-lao Ré, huyện Bình-Sơn. Bắt đầu từ bờ biển Sa-Kỳ, nếu thuận gió  người ta có thể đi đến đó trong ba hay bốn ngày thuyền. Người ta tính có hơn 130 đảo và đá ngầm lớn nhỏ, những đảo này cách nhau có khi một ngày, có khi vài canh đi thuyền. Trong những đảo này có những bãi cát vàng trải dài hàng trăm dặm gọi là Vạn-Lý Trường-Sa. Trên những dải cát đó có giếng nước ngọt và chim-chóc ở đó nhiều vô số kể. Ngưòi ta cũng thấy có hải-sâm, rùa, sò-ốc có màu sắc sặc-sở, đồi-mồi... và hàng-hoá của những thương-thuyền bị bão đánh đắm”.

- Theo Ðại-Nam Thực-Lục Chính-Biên, lịch-sử của nhà Nguyễn, viết năm 1848, Trương Phúc Sĩ là Ðội-Trưởng, sau khi lãnh sứ mệnh đi Hoàng-Sa để lấy địa-hình thì trở về có tâu lên vua Minh-Mệnh rằng Hoàng-Sa “được kết-tạo do những dải cát ở ngoài khơi và kéo dài vô-định”.[13]

    Những bộ sách khác viết dưới thời nhà Nguyễn như Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821), Hoàng-Việt Ðịa-Dư Chí (1833), Việt-Sử Cương Giám Khảo Lược (1876) đều diễn-tả Hoàng-Sa với những chi-tiết tương-tự.

    Vì biết rằng Hoàng-Sa và Trường-Sa có nhiều hải-sản quí-giá và nhiều hàng-hóa do những thuyền buôn bị đắm trôi dạt vào, cho nên các triều-đại của Việt-Nam từ thời xa xưa ấy đã tổ-chức để gây huê-lợi các nơi đây, biểu-lộ vì thế tính chủ-quyền của quốc-gia Việt-Nam tại các nơi đó. Có nhiều sách về lịch-sử và địa-dư của Việt-Nam đã ghi-nhận một cách rất rõ-rệt việc tổ-chức và cách-thức sinh-hoạt của các công-ty Hoàng-Sa có nhiệm-vụ làm huê-lợi tại các đảo này.

    - Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư (thế-kỷ 17) có viết đại-ý:

    “Mỗi năm vào tháng cuối của mùa Ðông, chúa Nguyễn gởi ra Bãi Cát Vàng một đội thuyền gồm 18 chiếc để thu-nhặt hàng-hóa, vì thế có được một số-lượng vàng, bạc, tiền, súng-ống và đạn dược.”

    - Phủ-Biên Tạp Lục (1776) ghi đại-ý:

    “Thời nhà Nguyễn có thành-lập công-ty Hoàng-Sa gồm có 70 người, thuộc làng An-Vĩnh, tuyển theo lối luân-phiên. Mỗi năm, vào tháng 3, công-ty được lệnh chuẩn-bị lương-thực trong 6 tháng, gồm 5 chiếc thuyên giong buồm đi ra đảo. Phải mất 3 ngày 3 đêm đi thuyền mới đến. Ở đây đi săn và đi đánh cá thỏa-thuê. Công-ty thu-nhặt những hàng-hóa của những thương-thuyền bị đắm gồm có: dao-kiếm, tiền-bạc, vòng-kiền bạc, đồ-vật bằng đồng, những thỏi kẽm, chì, súng, ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, vải-vóc bằng len cũng như vãy rùa, vỏ đồi-mồi, hải-sâm, những hạt trai ở trong loại sò-ốc có màu sắc rực-rỡ. Ðến tháng 8 cùng năm thì đoàn thuyền trở về cập bến Cửa Eo để giao những phẩm-vật thu được vào thành Phú-Xuân. Những hàng-hóa sau khi cân-lượng, khảo-sát và định-giá và xếp loại tùy theo giá-trị. Sau đó người ta có thể bán để lấy tiền. Riêng những phẩm vật như hải-sâm, đồi-mồi, sò-ốc, nhận giấy chứng-nhận và được trở về nhà...”

    “Nhà Nguyễn cũng cho thành-lập công-ty Bắc-Hải nhưng không xác-định công việc của công-ty này. Người ta tuyển người làng Tu-Chính thuộc phủ Bình-Thuận, hoặc ở làng Cảnh-Dương. Những người tình-nguyện khi đã nhận được lệnh công-tác thì được miễn các thứ thuế. Những người này xuống thuyền để đi về Bắc-Hải, những đảo Côn-Lôn, những đảo thuộc vùng Hà-Tiên, để đánh bắt rùa, đồi-mồi, bào-ngư, hải-sâm. Chỉ-huy trưởng công-ty Hoàng-Sa cũng là chỉ-huy trưởng của công-ty Bắc-Hải”.

    - Ðại-Nam Thực-Lục Chính Biên (1844) viết đại-ý:

    “Trong những ngày đầu trị-vì, nhà Nguyễn đã thành-lập công-ty Hoàng-Sa gồm 70 người, tuyển từ dân làng An-Vĩnh. Mỗi năm, vào tháng thứ ba, những người này xuống thuyền giong buồm ra khơi. Phải mất ba ngày ba đêm mới đến nơi. Họ thu nhặt hàng-hóa, đến tháng tám thì trở về và giao nộp những hàng-hóa này. Cũng có công-ty Bắc-Hải tuyển người ở làng  Tu-Chính, thuộc phủ Bình-Thuận, hay ở làng Cảnh-Dương. Công-ty này giong thuyền ra Bắc-Hải, Côn-Lôn để thu-nhặt hàng-hóa. Công-ty này cũng được đội-trưởng của công-ty Hoàng-Sa điều-khiển.”

    - Sau thời chúa Nguyễn, nhà Tây-Sơn mặc dầu bận-rộn với sự quấy-nhiểu liên-tục của nhà Thanh và Xiêm-La, cũng nhận thấy sự hữu-dụng ở các đảo nên vẫn giữ nguyên các công-ty Hoàng-Sa. Trong những tài-liệu tìm thấy được, người ta có thể nhắc đến lệnh đại-khái sau đây của quan Thượng Tướng Công:

    “Lệnh cho Hồi Ðức Hầu thuộc công-ty Hoàng-Sa dẫn 4 thuyền ra Hoàng-Sa và những đảo khác để thu-nhặt những đồ vật bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng và những khẩu đại-bác lớn nhỏ  cũng như các loại rùa có vảy, đồi-mồi, các loại cá quí sau đó đem những phẩm-vật này về kinh-đô như tập-tục ngày trước.”

    Vì thế dưới thời Tây-Sơn, chính-quyền nước Việt-Nam tiếp-tục thâu-hoạch huê-lợi tại Hoàng-Sa va thiết-lập chủ-quyền của Việt-Nam tại đó.

    - Từ khi lên ngôi năm 1802 cho đến khi ký hiệp-ước bảo-hộ với Pháp 1884, những vị hoàng-đế nhà Nguyễn liên-tục có nhiều hành-động để củng-cố chủ-quyền của Việt-Nam tại Hoàng-Sa và Trường-Sa.

    Năm 1815 hoàng-đế Gia-Long phái Phạm Quang Ảnh cầm đầu công-ty Hoàng-Sa lãnh sứ-mạng  tìm hiểu lộ-trình hàng-hải đi ra Hoàng-Sa. [14]

    Năm 1816 hoàng-đế Gia-Long ra lệnh cho thủy-binh và công-ty Hoàng-Sa đi ra đảo Hoàng-Sa để nghiên-cứu lộ-trình đi đến Hoàng-Sa. [15]

    Năm 1833 hoàng-đế Minh-Mệnh ra lệnh cho bộ Công chuẩn-bị thuyền-bè và người để ra Hoàng-Sa vào năm tới nhằm xây một đền thờ, dựng một bia và trồng cây.[16]

    Năm 1834 hoàng-đế Minh-Mệnh gởi ra Hoàng-Sa đội thủy-quân gồm khoảng 20 người, đội-trưởng là Trương Phúc Sĩ để làm công-tác lấy địa-hình.[17]

    Năm 1835 hoàng-đế Minh-Mệnh ra lệnh cho Ðội-Trưởng thủy-quân Phạm Văn Nguyên đem quân và nhân-công thuộc hai tỉnh Quảng-Ngãi và Bình-Ðịnh ra đảo Hoàng-Sa cùng với vật-liệu để nhằm xây-dựng tại đó một ngôi đền. Một tấm bia được dựng  phía bên trái và một tấm bình phong dựng phía trước ngôi đền.[18]

    Năm 1836 hoàng-đế Minh-Mệnh chấp-thuận một đề-nghị của bộ Công, ra lệnh cho Ðội-Trưởng thủy-quân Phạm Hữu Nhật đem một số chiến-thuyền ra Hoàng-Sa để làm công việc trắc-địa. Công-tác này được ghi lại qua Ðại-Nam Thực Lục Chính Biên đại ý như sau:

    “Tất-cả những  hải-đảo được thăm viếng, dầu là đảo nhỏ hay dải cát, đều được thám-hiểm và được mô-tả chính-xác chiều dài, chiều rộng, diện-tích và chu-vi, độ sâu của vùng biển chung-quanh, những khó-khăn hay dễ-dàng lúc tàu bè gặp phải lúc cặp bến. Tất cả được đo-đạc và được trình bày trên bản-đồ. Mặt khác, cũng phải ghi rõ bến khởi-hành, phương-hướng và chiều dài ước-lượng bằng dặm. Ðồng thời phải định-vị các đảo đã cặp bến so với bờ trên đất liền bằng cách xác-định tên, tọa-độ, phương-hướng của phủ, huyện đối-diện hay ở kế bên và ước-lượng độ dài của đảo đối với bờ trên đất liền bằng dặm. Tóm lại, tất cả đều được ghi-chép, mô-tả chi-tiết tỉ-mỉ để trình lên hoàng-đế.”

    Ðại-Nam Thực Lục Chính Biên cũng ghi rằng những cột mốc gỗ do Ðội-Trưởng Phạm Hữu Nhật đem theo để cắm trên các đảo được viết những chữ có ý-nghĩa như sau:

    “Vào năm Bính-Thân, tức triều Minh-Mệnh thứ 17(1836), Ðội-Trưởng Phạm Hữu Nhật lãnh chiếu-chỉ ra đảo Hoàng-Sa để phụ-trách việc lấy trắc-địa, đến nơi đây để cắm mốc nầy để ghi-nhớ muôn đời”.[19]

 

    - Những hoàng-đế nhà Nguyễn không những chỉ để ý về chủ-quyền và lợi-lộc của Hoàng-Sa và Trường-Sa mà còn lo-ngại cho sự an-ninh của thuyền-bè các nước khác đi ngang qua vùng biển này. Năm 1833 hoàng-đế Minh-Mệnh ra chiếu lệnh cho bộ Công, có nội-dung như sau: Lãnh-hải đối-diện vùng tỉnh Quảng-Ngãi là những đảo Trường-Sa trải dài bao-la mút mắt mà nơi đó bầu trời lẫn-lộn với nước biển có chung một màu, người ta không biết được mực nước tại đây nông hay sâu. Thời-gian gần đây có nhiều thương-thuyền bị đắm. Vì thế bắt đầu từ bây giờ chuẫn-bị thuyền lớn để vào năm tới “gởi người đến đó để trồng cây. Cây-cối khi lớn lên trở thành rừng, cho phép những nhà hàng-hải trông thấy dễ-dàng vùng đá ngầm nầy và tránh xa. Ðây là một công-việc mà các thế-hệ tương-lai sẽ hưởng được kết-quả.”[20]

    Ðây chắc-chắn là một hành-động biểu-lộ trách-nhiệm của vị chủ-tể quốc-gia về lãnh-thổ của nước mình đối với các thương-thuyền ngoại-quốc. Việc này cho thấy đích-thực Hoàng-Sa và Trường-Sa là một phần lãnh-thổ của Việt-Nam.

    Những bộ cổ-sử và địa-chí của Việt-Nam cũng như những lời ghi-nhận của các nhà hàng-hải hay truyền-giáo Tây-Phương ghi trên, cho thấy rằng từ lâu, và trải dài nhiều thế-kỷ, từ triều-đại nầy sang triều-đại khác, quốc-gia Việt-Nam đã làm chủ một cách liên-tục hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa. Sự có mặt đều-đặn của của công-ty Hoàng-Sa do nhà-nước thành-lập tại hai quần-đảo này để thi-hành công-việc trong  thời-gian 5, 6 tháng mỗi năm, là một bằng-chứng không thể phản-biện việc hành-sử chủ-quyền của quốc-gia Việt-Nam tại hai quần-đảo nầy. Việc quốc-gia Việt-Nam chiếm-hữu cũng như khai-thác huê-lợi hai quần-đảo nầy chưa bao giờ gặp sự chống-đối của bất-kỳ một nước nào, kể cả nước Trung-Hoa. Đây là bằng-chứng cho thấy đã từ lâu, Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc lãnh-thổ nước Việt-Nam.

 

 

Phần 2: Hoàng-Sa và Trường-Sa chưa bao giờ là lãnh-thổ của Trung-Quốc.

 

    1/ Lý-lẻ của nhà cầm-quyền Trung-Quốc nhằm ngụy-biện các việc  « khám-phá », « khai-khẩn » và « thâu huê-lợi » của dân-tộc Trung-Hoa tại Hoàng-Sa và Trường-Sa :

    Hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc công-bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 viết rằng :  “Trung-Hoa là nước đầu tiên đã khám-phá, khai-khẩn, thâu huê-lợi và quản-lý các quần-đảo gọi là Xisha (Tây-Sa) và Nansha (Nam-Sa). Từ ngàn năm nay, những chính-phủ Trung-Hoa liên-tục đã đặt quyền-pháp trên những nơi đây. Dân-tộc Trung-Hoa là người chủ tại hai quần-đảo nầy không thể phản-biện”.

    Tài liệu chứng-minh là hai tác-phẩm Nan Zhou Yi Wu Zhi (Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn) và Funanzhuan (Phù-Nam Truyện của Khang Thái từ thời Tam-Quốc (220-265) và một danh-sách 6 tác-phẩm từ đời Tống đến đời Thanh (thế-kỷ 11 đến thế-kỷ thứ 19) là: Mong Liang Lu (Mộng Lương Lục), Qao Yi Zhi Luc (Ðảo Di Chí Lược), Dong Xi Yang Kao (Ðông Tây Dương Khảo), Shun Feng Xiang Song (Thuận Phong Tương Tống), Zhi Nan Zheng Fa (Chỉ Nam Chinh Pháp), Hai Guo Wen Jian Lu (Hải Quốc Văn Kiến Lục).

    Hồ-sơ này xác-nhận rằng những tác-phẩm trên đây « kể lại những cuộc hành-trình của người Hoa đi đến Tây-Sa và Nam-Sa và những hoạt-động sản-xuất mà họ đã thực-hiện từ hơn ngàn năm »« đã đặt tên lần-lượt cho hai quần đảo nầy với những tên sau đây : Jiurulozhou (Cửu Nhũ Loa Châu), Shitang (Thạnh-Ðường), Qianlishitang (Thiên-Lý Thạnh Ðường, Wanlishitang (Vạn-Lý Thạnh Ðường), Changsha (Trường-Sa) , Qianlichangsha (Thiên-Lý Trường-Sa), Wanlichangsha (Vạn-Lý Trường-Sa) » v.v...

 

    Nhưng thực-tế thì các bộ sách đã dẫn không phải là « chính sử[21] » của Trung-Quốc và nội-dung trích dẫn không đúng như vậy. Điểm ghi nhận là các bộ « chính sử » của Trung-Quốc thì không bộ nào viết Tây-Sa và Nam-Sa (hay dưới các tên khác)  thuộc về Trung-Quốc. Bộ Nhị Thập Tứ Sử (bộ chính sử được tất cả các triều đại Trung Quốc thừa nhận) tức từ Sử ký ghi chép từ Thượng cổ đến Tần, Hán, cho đến Minh sử; và Thanh sử cảo soạn thời Dân Quốc, ở các mục Địa lý chí đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đất Nhai Châu, Quỳnh Châu, tức Hải Nam ngày nay.

    Hai tác-phẩm thời Tam-Quốc thì nội-dung rất mơ-hồ, thiếu chính-xác, không có giá-trị sử-liệu và pháp-lý. Riêng 6 tác-phẩm từ đời Tống đến đời Thanh thì chỉ nhằm việc ghi-chép địa-lý, lịch-sử, tập-quán… của những xứ khác trong vùng Ðông-Nam Châu Á và vùng Nam Châu Á. Có sách viết về hải-trình từ Trung-Quốc đi đến các nước khác. Tuyệt-nhiên không có sách nào  ghi lại sự có mặt của người Hoa tại hai quần-đảo nầy cũng như mô-tả về « hoạt-động sản-xuất » tại đó.

    Những cái tên ngày xưa, theo Bắc-Kinh, là tên mà các tác-phẩm đó chỉ hai quần-đảo, giả-sử rằng thực-sự đúng là như thế, thì chúng chỉ là những tên mà người Hoa đã sử-dụng trong quá-khứ để mô-tả địa-lý các nước ngoài hay là những hải-trình ở trên Biển-Ðông, những cái tên của các địa-phương nầy không hề có giá-trị pháp-lý để chứng-minh rằng các quần-đảo đó thuộc Trung-Quốc.

    Riêng về việc « khám-phá » của Trung-Quốc, giả-sử sự việc nầy đúng như thế, thì nó cũng không có một ý-nghĩa pháp-lý nào để chứng-minh rằng từ thời-kỳ đó, những quần-đảo mà người Trung-Quốc gọi là Tây-Sa và Nam-Sa thuộc lãnh-thổ của Trung-Quốc. Sự việc « khai-khẩn » và sự việc « thâu huê-lợi » của người Hoa tại Tây-Sa và Nam-Sa giả-sử có thật thì cũng chỉ là hành-động của cá-nhân, vì thế quốc-gia Trung-Quốc không có cách nào để nhận chủ-quyền ở hai quần-đảo đó.

 

    2. Vấn-đề giả-mạo dữ-kiện để minh-chứng thẩm-quyền của các triều-đại Trung-Quốc tại Hoàng-Sa và Trường-Sa qua hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc.

    Ðiểm chính mà công-luận đòi-hỏi chính-quyền Trung-Quốc phải chứng-minh là : từ bao giờ và bằng cách nào quốc-gia Trung-Quốc chiếm-đóng Tây-Sa và Nam-Sa ? Bắc-Kinh đã vô-phương giải-thích một cách đứng-đắn. Vì thế chính-quyền Trung-Quốc chỉ xác-nhận bằng những lời nói chung-chung như « những nhà cầm-quyền Trung-Quốc tiếp-nối đã hành-sử thẩm-quyền » tại hai quần-đảo. Và để chứng-minh họ đưa ra một số bằng-chứng trong thời-kỳ từ thế-kỷ thứ 11 đến thế-kỷ thứ 19, mà 3 bằng-chứng giả-mạo như sau :

    2.1. Bằng-chứng 1 : Hồ-sơ đã ghi ở trên của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã trích-dẫn một đọan văn và cho là của Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu), viết dưới triều Renzong (1023-1063) Bắc-Tống :  Triều-đình Bắc-Tống « ra lệnh cho quân-đội hoàng-gia tuần-tiễu xây-dựng  ở Guangnan (Quảng-Nam, hiện thời là Quảng-Ðông) một nơi đóng quân nhằm vào việc tuần-tiễu trên biển » và « xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư - navire à quille)»... « Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để từ Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) đến Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu)».

    Cho rằng Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu) là « quần-đảo Tây-Sa », hồ-sơ trên kết-luận-rằng « triều-đình Bắc-Tống đã sử-dụng thẩm-quyền của mình ở quần-đảo Tây-Sa », và « hải-quân Trung-Quốc đã tuần-tiễu cho đến Tây-Sa ».

    Nhưng sự-thật thì hoàn-toàn không đúng như thế. Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu) đã viết như sau :

    « ... ra lệnh cho quân-đội hoàng-gia thực-hiện việc tuần-tiễu, xây-dựng một trại quân cho việc tuần-tiễu trên biển tại hai bến tàu ở phía Ðông và phía Tây khoảng-cách là 280 trượng[22], cách Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) 200 lí[23] và xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư).

    Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để đi từ Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn)[24] đến Jiuruluoshou (Cửu Nhũ Loa Châu), thêm 3 ngày nữa thì đến Pulaoshan (Bất Lao Sơn thuộc Huanzhou Hoàn-Châu) [25], sau khi đi thêm 300 lí về hướng Nam thì tới Lingshandong (Lăng Sơn Ðông). Ở phía Tây-Nam của nơi này thì có các nước Dashifu, Sizi (Tích-Lan), Tianzhu (Thiên-Trúc)[26] . Không thể ước-lượng được khoảng-cách.[27] »

    Như thế rõ-ràng trong phần trích-dẫn ghi trên đây của Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu), một đoạn ghi lại việc hoàng-đế của Bắc-Tống ra lệnh « xây-dựng một trại quân dùng vào việc tuần-tiễu trên biển » ở bến Quảng-Châu (Guangzhou), một đoạn khác mô-tả vị-trí địa-lý của trại quân ghi trên, và một đoạn khác mô-tả hải-trình đi từ bến Quảng-Châu cho đến Ấn-Ðộ Dương. Không thấy chỗ nào ghi rằng hải-quân Trung-Hoa đi tuần-tiễu cho đến quần-đảo « Xisha » (Tây-Sa). Như thế, hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã cắt ra một đoạn để dán vào đó một đoạn khác  nhằm ngụy-tạo bằng-chứng để dành lấy Hoàng-Sa của Việt-Nam.[28]

    2.2. Bằng-chứng 2 : Hồ-sơ dẫn trên của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã dựa lên những việc quan-sát thiên-văn xảy ra ở Nam-Hải và đầu triều Nguyên (Yuan) để khẳng-định rằng « dưới triều Nguyên, quần-đảo Xisha - Tây-Sa - thuộc lãnh-thổ Trung-Hoa ».

    Theo Yuanshi (Nguyên Chí), lịch-sử chính-thức của triều Nguyên, những quan-sát thiên-văn đã thực-hiện vào đầu triều-đại nầy được kể lại như sau :

    « Những đo-lường về bóng của mặt trời tại bốn biển được thực-hiện ở 27 vị-trí, phía Ðông cho tới Kaoli - Cao-Ly, phía Tây cho tới Tianchi, phía Nam cho tới Zhuya, phía Bắc cho tới Tiele. »[29]

    Dưới tựa-đề « quan-sát bốn biển », Nguyên Chí đã ghi lại 27 vị-trí [30] mà nơi đó đã được thực-hiện những quan-sát thiên-văn, trong đó gồm có các nơi Kaoli (Cao-Ly), Tiele (Thiết-Lặc, Sibérie, Nga), Beihai (Bắc-Hải, vùng bờ biển ở Sibérie), Nanhai (tức biển Đông).

    Những dữ-kiện đã ghi lại trong Nguyên Chí cho thấy rõ-ràng rằng những quan-sát thiên-văn tại 27 vị-trí không phải là việc « quan-sát khắp đất nước » như hồ-sơ của Bắc-Kinh đã khẳng-định, mà là việc « quan-sát ở bốn biển ».

    Ðó chính là lý-do mà Nguyên Chí cũng đã ghi-chú những vị-trí ở ngoài lãnh-thổ Trung-Quốc như Ðại-Hàn, Thiết-Lặc, Bắc-Hải, Biển-Ðông.[31]

    Giả-sử rằng vị-trí quan-sát thiên-văn vùng « Nam Hải, Nanhai » ở tại Xisha (Tây-Sa tức Hoàng-Sa), việc nầy cũng không có nghĩa là Xisha thuộc lãnh-thổ Trung-Hoa từ thời Nguyên. Bộ Nguyên Chí cũng đã xác-nhận rằng lãnh-thổ Trung-Quốc về hướng Nam chỉ đến đảo Hải-Nam và không vượt qua sa-mạc Gobi[32] ở phương Bắc.

    2.3. Bằng-chứng 3 : Hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc  đã trích-dẫn việc một toán tuần-tiễu trên biển do Phó Ðô-Ðốc Wu Sheng (Ngô Thăng) chỉ-huy, từ 1710 và 1712, dưới đời nhà Thanh : « Khởi-hành từ Qiongya (Quỳnh Nha), đội hải-quân đi đến Tonggu (Ðông-Cô) và đi ngang qua Quizhouyang (Thất Châu Dương) và Sigengsha (Tứ Canh Sa), trải qua như vậy 3.000 lí, để tự mình thực-hiện một vòng kiểm-soát », để khẳng-định « Thất Châu Dương là vùng đảo Xisha – Tây-Sa, tại đó lực-lượng hải-quân của tỉnh Quảng-Ðông đảm-trách việc tuần-tiễu ».

    Nhưng sự thực thì hoàn-toàn không phải như vậy. Những địa-danh trong đoạn trích-dẫn trên đây thì ở trong vùng chung-quanh đảo Hải-Nam :

    Quỳnh-Nha là « vùng quân-sự Quỳnh-Nh     a (đảo Hải-Nam) dưới triều Thanh, bộ chỉ-huy đóng ở Qiongshan (Quỳnh-Sơn) gần thành-phố Hải-Khẩu (Haikou),  phía Bắc đảo Hải-Nam.[33]

    Đông-Cô là điểm Ðông-Bắc đảo Hải-Nam.[34]

    Thất Châu Dương chỉ vùng biển có 7 đảo mang tên Thất-Châu ở phía Ðông đảo Hải-Nam.[35]

    Tứ Canh Sa là một dãi cát ở phía Tây đảo Hải-Nam.[36]

    Sư thật tìm thấy qua sự nghiên-cứu khách-quan ở những văn-bản gốc. Việc nầy cho thấy rằng bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã có hành-động cố ý giả-mạo để cho Thất Châu Dương trở thành « vùng đảo Tây-Sa » và việc tuần-tiễu của Ngô Thăng chung quanh đảo Hải-Nam trở thành việc tuần-tiễu « vùng đảo Tây-Sa », cuối cùng kết-luận rằng vùng nầy ngày xưa « được lực-lượng hải-quân tỉnh Quảng-Ðông phụ-trách việc tuần-tiễu ».

    Sự đối-chiếu những đoạn trích-dẫn do Bắc-Kinh đưa ra với các bản chánh đã cho thấy rõ-rệt rằng ba điểm nầy không hề có một tương-quan nào với quần-đảo « Xisha ».

    Bắc-Kinh cũng đã nói sai khi cho rằng một số địa-dư chí của các địa-phương của Trung-Quốc dưới thời Minh và Thanh có viết « Quảng-Châu (Wanzhou) bao gồm Qianlichangsha (Thiên-Lý Trường-Sa) và Wanlishitang (Vạn Lý Thạnh Ðường »[37] nhằm mục-đích chứng-minh rằng « quần-đảo Xisha và Nansha vào thời đó thuộc Wanzhou (Quảng-Châu), phủ Qiongzhou (Quỳnh-Châu), tỉnh Quảng-Ðông ». Nhưng trong bộ Da Qing Yi Tongzhi (Ðại Thanh Nhất Thống Chí), bộ địa-dư chính-thức được viết bởi Viện Quốc-Gia Sử-Học dưới triều nhà Thanh với lời dẫn-nhập của hoàng-đế Xuanzong năm 1842, không hề có đoạn nào ghi-nhận rằng « Thiên-Lý Trường Sa» và « Vạn-Lý Thạnh-Ðường» thuộc về Quảng-Châu, phủ Quỳnh-Châu, tỉnh Quảng-Ðông. Cũng có thể do lý-do nầy mà nhà cầm-quyền Bắc-Kinh đã không trích-dẫn đoạn nào thuộc bộ sách nầy, mặc dầu đây là một bộ sử chính-thức của  Trung-Quốc.

    Mặt khác, nhà cầm-quyền Bắc-Kinh cũng tạo dựng lên bằng-chứng đó là ba bản-đồ Trung-Quốc (tất-cả được thực-hiện dưới triều nhà Thanh)[38]. Người đọc có thể tự hỏi rằng tại sao họ không công-bố những bản-đồ nầy ? Hành-động dấu-diếm nầy người ta có thể hiểu dễ-dàng, đó là tất cả những bản-đồ của Trung-Quốc, cho đến những năm đầu của Cộng-Hoà Trung-Hoa, thì không có ghi-nhận về Xisha và Nansha như là nhà cầm-quyền Bắc-Kinh đã tuyên-bố. Hay là họ phải cần thời-gian để vẽ bản-đồ ?

    Về việc đổ-bộ chớp-nhoáng quần-đảo Xisha, thừa lệnh của Tổng-Ðốc Quảng-Ðông Zhang Renjim[39], Ðô-Ðốc Hải-Quân Li Zhun cầm đầu 170 quan quân, vào năm 1909, đã đổ bộ lên một số đảo thuộc Hoàng-Sa của Việt-Nam, thì đây là một hành-động bất-hợp-lệ, bởi vì ít nhất từ hàng thế-kỷ, Hoàng-Sa mà Trung-Quốc gọi là Xisha, đã là một lãnh-thổ của Việt-Nam. Ðây không phải là một vùng đảo vô chủ.

    Về việc đổ bộ của Hải-Quân Trung-Hoa Dân-Quốc trên đảo Phú-Lâm (Ile Boisée) thuộc Hoàng-Sa và đảo Itu Aba (Ba-Bình) thuộc Trường-Sa vào tháng 12 năm 1946 là một hành-động xâm-lăng, bởi vì đã từ lâu, hai quần-đảo nầy đã thuộc chủ-quyền Việt-Nam.

    Về việc chiếm đóng của Cộng-Hòa Nhân-Dân Trung-Hoa tại nhóm đảo Ðông-Bắc từ năm 1950 và từ 1974 nhóm Tây-Nam của quần-đảo Hoàng-Sa lúc đó dưới sự kiểm-soát của Việt-Nam Cộng-Hòa, cũng là một hành-động xâm-lăng bằng vũ-lực.

    Việc xâm-lăng, xảy ra chớp-nhoáng hay sau đó chiếm đóng lâu dài, hoặc bất-kỳ hành-động nào của Trung-Quốc ở Hoàng-Sa và trên đảo Itu Aba (Ba-Bình) thuộc Trường-Sa là một hành-vi xâm-phạm chủ-quyền và toàn-vẹn lãnh-thổ của Việt-Nam. Những hành-động nầy chà đạp luật-pháp quốc-tế và sẽ không đem lại cho kẻ gây-hấn bất-kỳ một quyền-hạn hay có một chủ-quyền nào ở những nơi nầy.

    Bất-chấp thực-tế hiển-nhiên là Trường-Sa và Hoàng-Sa thuộc lãnh-thổ của Quốc-gia Việt-Nam, trung-ương đảng cộng-sản lãnh-đạo Trung-Quốc đã thử biện-hộ cho mưu-đồ bành-trướng của họ tại Hoàng-Sa và Trường-Sa qua việc bóp méo nội-dung một số cổ-sử để mạo nhận rằng “Trung-Quốc là nước đầu tiên đã khám-phá, khai-khẩn, thâu huê-lợi và quản-lý các quần-đảo gọi là Xisha (Tây-Sa) và Nansha (Nam-Sa). Từ ngàn năm nay, những chính-phủ Trung-Quốc liên-tục đã đặt quyền-pháp trên những nơi đây. Dân-tộc Trung-Quốc là người chủ tại hai quần-đảo nầy không thể phản-biện”.[40]

    Mặt khác, trung-ương đảng CS Trung-Quốc đã xảo-ngôn cho rằng Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam chỉ là những đảo và những dãi cát cận bờ thuộc miền Trung Việt-Nam, chứng-minh vì thế hai quần-đảo nầy không phải là Tây-Sa và Nam-Sa của Trung-Hoa.

Nhưng thực-tế vẫn là thực-tế, hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa đã và sẽ vĩnh-viễn là của Việt-Nam.

 

    3. Một dẫn-chứng mới của Bắc-Kinh : Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam không phải là « Xisha » và « Nansha » của Trung-Hoa.

    Hồ-sơ dẫn trên của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc được kết-luận bằng một sự khẳng-định long-trọng : « Quần-đảo Hoàng-Sa của Việt-Nam không phải Xisha của Trung-Quốc », cũng tương-tự « Quần-đảo Trường-Sa của Việt-Nam không phải Nansha của Trung-Quốc » ; Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam chỉ có thể là « những đảo và những dãi cát cận bờ ở Trung-phần Việt-Nam ». Phía Trung-Quốc còn khẳng-định thêm rằng phía Việt-Nam không thể « chứng-minh rằng Trường-Sa tức là Nansha của Trung-Quốc ». Ðây là những lý-lẽ mới-mẻ mà Bắc-Kinh chưa từng sử-dụng.

 

    Từ những lý-lẽ nầy lại người ta thấy rằng, một mặt, Bắc-Kinh công-nhận sự hiện-hữu của những đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam, mặc khác họ cũng cho rằng có sự hiện-hữu của những đảo gọi là Xisha và Nansha. Như thế thì những cái gọi là « Xisha » và « Nansha » thì chúng ở đâu ? Những quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa từ lâu đã thuộc lãnh-thổ của Việt-Nam, chúng đã được ghi-nhận trong một số lượng lớn sử-sách của Việt-Nam và được vẽ trên nhiều bản-đồ của Việt-Nam cũng như Tây-Phương (dưới tên Paracels và Spratley hay Spratly). Những người lãnh-đạo Trung-Quốc đã tự cho rằng hai quần-đảo nầy thuộc về lãnh-thổ của Trung-Quốc mà không trình-bày ra một bằng-chứng nào và đặt tên cho hai quần-đảo nầy là « Xisha » và « Nansha ». Và hôm nay họ lại lên tiếng cho rằng Việt-Nam không thể chứng-minh rằng Hoàng-Sa và Trường-Sa tức là « Xisha » và « Nansha » của họ. Thật là không có cách nào để diễn-tả cái điêu-ngoa của những lời xảo-trá nầy. Việc nầy cho thấy Bắc-Kinh đã không còn tìm thấy được một lý-do nào đứng-đắn và thuyết-phục hơn để tranh-cãi với Việt-Nam về Hoàng-Sa và Trường-Sa.

    Tất cả những tác-phẩm của Việt-Nam đã phân-biệt một cách rõ-rệt giữa Hoàng-Sa và những đảo cận bờ ở miền Trung-Việt. Trong Phủ-Biên Tạp Lục, nhà bác-học Lê Quí Ðôn đã ghi rõ rằng Ðại Trường-Sa ở về phía bên kia của cù-lao Ré và để đi đến đó phải mất ba ngày và ba đêm.

    Bản-đồ Ðại-Nam Nhất-Thống Toàn Ðồ cũng có vẽ Hoàng-Sa - Vạn-Lý Trường-Sa ở về phía bên kia các đảo cận bờ như cù-lao Chàm, cù-lao Ré, cù-lao Xanh (Puolo gambi), cù-lao Thu (Poulo Cécir de mer) v.v…

    Mặt khác, những người cầm-quyền Trung-Quốc đã bóp méo bài viết năm 1837 của linh-mục J.L. Tabert để cho rằng quần-đảo Hoàng-Sa mà linh-mục nầy đề-cập chỉ là « những đảo và dãi cát gần bờ thuộc miền Trung Việt-Nam ». Những người nầy không biết thật hay là giả đò không biết ? Bởi vì năm sau, 1838, Linh-mục Tabert cho in bản-đồ An-Nam Ðại-Quốc Họa-Ðồ trong quyển Tự-Ðiển Latin-Việt (Dictionarium Latino-Anamiticum) và trên bản-đồ nầy, phía ngoài của những đảo chánh ven bờ thuộc miền Trung Việt-Nam như là cù-lao Chàm, cù-lao Ré, cù-lao Xanh, cù-lao Thu v.v… có vẽ một cách minh-bạch « Paracel seu Cat Vang ». Như vậy là linh-mục Tabert đã phân-biệt một cách rõ-rệt giữa quần-đảo Hoàng-Sa ở giữa Biển Ðông với những đảo cận bờ của miền Trung Việt-Nam. Hầu như tất cả những bản-đồ của những nhà hàng-hải Tây-Phương  vào các thế-kỷ thứ 16, 17, và 18 đều vẽ Pracel hay Parcel trong vùng của các quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa hôm nay, và chúng ở cách xa những đảo cận bờ của miền Trung Việt-Nam.

    Năm 1959, có 82 ngư dân thuộc Trung-Quốc trên 3 chiếc thuyền cặp vào 3 đảo thuộc Hoàng-Sa đó là các đảo : Hữu-Nhật, Duy-Mộng, Quang-Hòa, nhưng những người nầy bị nhà cầm-quyền Việt-Nam Cộng-Hòa bắt giữ. Về việc nầy bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc ngày 29 tháng 2 năm 1959 có công-bố một tuyên-bố phản-đối Việt-Nam Cộng-Hòa. Những ngư-dân của Trung-Quốc, theo như nội-dung của bản  tuyên-bố nầy, thì bị bắt không phải tại những đảo cận bờ ở miền Trung-Việt, mà họ bị bắt trên ba đảo Hữu-Nhật, Duy-Mộng, Quang-Hòa thuộc quần-đảo Hoàng-Sa.

    Chính-phủ Việt-Nam Cộng-Hòa đã tố-cáo ngày 19 tháng 1 năm 1974 việc quân-đội Trung-Quốc đã đánh chiếm quần-đảo Hoàng-Sa, ngày 20 tháng 1 năm 1974, bộ-trưởng bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã công-bố một tuyên-cáo để giải-thích việc xâm-lăng nầy. Ðây là một việc không thể chối cãi rằng tất-cả sự việc đã xãy ra tại Hoàng-Sa mà Bắc-Kinh gọi đó là « Xisha », và kể từ thời điểm đó, quân-đội Trung-Quốc chiếm-đóng Hoàng-Sa chứ không phải những đảo ven bờ của miền Trung-Việt.

    Hai thí-dụ trên đây chứng-minh rằng, cho đến trước ngày 30 tháng 1 năm 1980, tức thời-điểm mà bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc công-bố hồ-sơ nhắc ở trên, những gì mà Bắc-Kinh gọi là « Xisha » và « Nansha » thì đúng là các quần đảo « Hoàng-Sa » và « Trường-Sa », chứ không phải là những đảo cận bờ của miền Trung Việt-Nam, tức là Paracels và Spratley hay Spratly trên các bản-đồ hải-trình của hàng-hải quốc-tế.

    Bởi vậy, những quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam không bị thay đổi vị-trí địa-lý do việc « hán-hóa » tên của chúng ; và cũng không thuộc về Trung-Quốc vì những trá-ngụy dấu đầu lòi duôi do nhà cầm-quyền Bắc-Kinh dựng lên.

 

    Kết-luận : Mặc dầu đã làm biết bao nhiêu phong-trào tuyên-truyền láo-khoét và đã bỏ ra biết bao công-sức từ mấy thập-niên nay để cắt-dán tài-liệu nhằm bóp méo nội-dung để tạo-dựng lên những lý-lẽ, nhưng Bắc-Kinh vô-phương chứng-minh được rằng từ khi nào Trung-Quốc đã chiếm-hữu Hoàng-Ha và Trường-Sa và quốc-gia nầy đã hành-sử chủ quyền của họ ra sao tại những nơi đây. Sự việc rất đơn-giản :

     Bởi vì quần-đảo Hoàng-Sa (Paracels) và quần-đảo Trường-Sa (Spratley hay Spratly) mà nhà cầm-quyền Trung-Quốc gọi là « Xisha » và « Nansha » chưa bao giờ thuộc về lãnh-thổ của Trung-Quốc.

 

Trương Nhân Tuấn


 

[1] Dòng dõi Chúa Nguyễn 1558-1775, lãnh-đạo Ðàng Trong, tức miền Nam VN hiện nay.

[2] Xem bộ Hồng-Ðức Bản-Ðồ.

[3] Phía Nam của Sa-Kỳ, làng An-Vĩnh ở trên đảo Ré cũng thuộc Quảng-Ngãi.

[4] Ðơn-vị đo chiều dài của Việt-Nam, khoảng 500 mét.

[5] Xem « Mistère des Atolls – Journal de Voyage au Paracel », đăng trong tuần báo « Indochine » số 3, 7 và 10 tháng 7 năm 1941.

[6] Từ-ngữ Cochinchine hay Cochinchina trong các bài viết của người Tây-Phương thì gồm có hai nghĩa tùy theo hoàn-cảnh : Việt-Nam hay chỉ là miền Nam.

[7] A. Salles có ghi lại trong « Bulletins des Amis du vieux Huê », số 2, 1923, trang 257.

[8] Note on Geography of Cochinchina của Linh-Mục Jean Louis Tabert, đăng trong The Journal of the Aslatie Society of Bengal. Vol VI, 1837, page 745.

[9] Geography of the Cochinchinese Empire, đăng trong The Journal of the Royal Geography Society of the London, bộ số XIX, 1849, trang 93.

[10] Tức là bến Cửa Ðại thuộc Quảng-Nam – Ðà-Nẵng.

[11] Sa-Vinh tức Sa-Huỳnh hiện nay, thuộc tỉnh Quảng-Ngãi.

[12] Ngày xưa Bãi Cát Vàng là một vùng rất nguy-hiểm, đầy dẫy những dãi cát và đá ngầm, ở ngoài khơi của Biển-Ðông.

[13] Quyển 122, kỳ 2.

[14] Quyển 50, kỳ 1.

[15] Quyển 52, kỳ 1.

[16] Quyển 104, kỳ 2.

[17] Quyển 122, kỳ 2.

[18] Quyển 154, kỳ 2.

[19] Quyển 165, kỳ 2.

[20] Quyển 104, kỳ 2.

[21] xem Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007.

[22] Trượng : đơn-vị đo chiều dài của Tàu ngày xưa, tương-đương 3,51 mét.

[23] Lí : Ðơn-vị đo chiều dài của Tàu ngày xưa, tương-đương 0,5 Km.

[24] Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn)  ở tại cửa sông Zhoukiang (Châu-Giang - Quảng-Ðông)

[25] Pulaoshan tức là đảo Cham, Huanzhou là nước Chàm.

[26] Dashifu, hay Dashi, theo một sách cổ của Trung-Hoa, đó chỉ một vương-quốc thời Trung-Cổ ở trong vịnh Persique ; Sizi là Srilanka (Tích-Lan) ; Tianzhu là Ấn-Ðộ (theo các sách của Tangshu, Songshi, Gugintushuzisheng).

[27] Vũ Kinh Tổng Yếu, bộ 1, quyển 20, trang 19a, 19b.

[28] Nhà cầm-quyền Bắc-Kinh không những chỉ cắt dán tài-liệu lịch-sử nhằm bóp méo nội-dung của các sử-liệu đó mà họ còn phiên-dịch một cách sai-lệch tựa đề của các quyển sách đã trích-dẫn. Thí-dụ : « Dao Yi Zhi Luc Ðảo Di Chí Lược » có nghĩa hiện-thời « Khái-quát về những đảo-quốc (pays barbares insulaires)» (theo khái-niệm khinh-bỉ của Trung-Hoa, « barbare – man, mọi » có ý-nghĩa là người ngoại-quốc, đã được dịch là « Khái-quát về các đảo » ; Hai Guo Wen Jian Lu (Hải Quốc Văn Kiến Lục) có nghĩa là « Những sự việc nghe và thấy tại các xứ ngoại-quốc », đã được dịch như sau « Những sự việc nghe và thấy tại các vùng cận biển ».

[29] Nguyên Chí, quyển 48, trang 1a và 1b.

[30] Nguyên Chí, quyển 48, trang 7a và 7b.

[31] Xem giải-thích trong quyển Hai Guo Tu Zhi xuất-bản năm 1842.

[32] Xem Zhung Wen Da Ci (?)  Dien, 1963 (do Ðài-Loan công-bố). (ghi dấu ? vì bản chính lu-mờ, không thấy rõ).

[33] Theo Nguyên Chí (phần địa-danh), Li Da Gang Wu Poa ( ?) (nhà Thanh)

[34] Xem bản-đồ của Zhung Quo Sin Ju Ji, năm  1917 (do Báo-Chí Thương-Mại Thượng-Hải ấn-hành)

[35] idem

[36] Bản-đồ hàng-hải Trung-Hoa, tỉ-lệ 1/500.000, trang nói về « bán-đảo Liễu-Châu (Leizhou)  và đảo Hải-Nam), do Trung-Cộng ấn-hành tháng 5 năm 1965 bằng Việt-ngữ và Hoa-ngữ.

[37] « Guangdong Tongzhi - Quảng-Ðông Thống-Chí», « Qiongzhou Fu Zhi, Khâm-Châu Phủ Chí », « Wan Zhou Zhi, Quảng-Châu Chí »

[38] « Huang Quing Gezhi Fen Tu » (1755), « Da Quing Wan Nian Yi Tong Di Li Quan Tu » 1810, « Da Quing Yi Tong Xia Quan Tu » (1817).

[39] Trương Nhân Tuấn. Tên này trùng với bút hiệu của tác-giả nhưng hai bên không có quan-hệ nào. Chữ Nhân trong bút hiệu tác-giả là chữ Nhân của nhân-ái, nhân-bản, nhân-đạo… có ý nghĩa là phẩm-chất con người.

[40] Hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc công-bố ngày 30 tháng 1 năm 1980.

 


Liên lạc email: vanphong_nguoivietparis.com