Bình luận thời sự
Người Việt khắp nơi
Thắc mắc hành chánh & xã hội
Sức khỏe
Rao vặt miễn phí-quảng cáo
Du ngoạn
Giới trẻ
Hội đoàn người Việt Paris
Văn hóa
Truyền thông
Giải trí
Sinh hoạt cộng đồng
Phỏng vấn hàng tuần

www.meteoconsult.fr

www.cnn.com/weather

Numéros d'urgence (Paris):
PHARMACIE de Garde:
01 45 62 02 41
SAMU:
01 45 67 50 50
Police SECOURS:
01 53 41 50 00
Gendarmerie Nationale (1e 2e 3e 4e 5e 6e):
01 58 80 32 25
Douanes (DGDDI):
01 40 04 04 04
S.O.S Médecins:
01 47 07 77 77
S.O.S Dentaire:
01 43 37 51 00
Renseignements Hospitaliers:
01 40 27 30 00
SECOURS Cardiologique:
01 45 27 10 10
URGENCES Médicales de Paris:
01 48 28 40 04
URGENCES Pédiatrie:
01 43 94 35 01
URGENCES psychiatriques:
01 45 65 30 00

 

Người Việt Khắp Nơi

Vui mừng và Hy vọng

(Kỷ niệm húy nhật Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận)

(Lê Hùng, Bruxelles)

 

1. Bước đầu gặp gở

Trước năm 1954, tôi chưa từng biết tên tuổi và dung nhan linh mục Nguyễn văn Thuận, dù Ngài là linh mục phó giáo xứ tại Tam Toà, một làng công giáo sát cạnh làng tôi đã từng sống và lớn lên : phường Xóm câu, làng Đông hãi, thành phố Đồng hới, tỉnh lỵ Quảng bình.

Qua những năm 1960, trong thời gian dạy học tại trường Thiên hữu (Providence Huế), tôi chỉ nhớ có lần cha Tôn, cha Bính và cha Trinh nói chuyện về Ngài, một linh mục vừa trẻ vừa đẹp trai con ông bà Ấm bên Phú cam đã đậu Tiến sĩ từ Roma mới về, được bổ làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Huế.

Sau thời gian đánh sập Đệ nhứt Cộng Hoà « của nhóm tướng lãnh 1963 » chừng một năm, trong một buổi tối khoản đải các quan khách và bạn hữu tại sân truờng Taberd Saigon, ăn mừng Ngài vừa nhận chức Giám mục Nha trang, tôi may mắn được nhận diện Ngài và đây là lần đầu tiên. Cũng như những người khác, tôi chỉ biết chào Ngài với hai chữ « hân hoan » và Ngài cũng chỉ đáp lại hai chữ « cảm ơn ». Tôi nhớ trong số quan khách tại buổi ăn mừng nấy có cả sự hiện diện của cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu.

Tối hôm đó, kỷ sư Trần quang Ngọc, cựu dân biểu thời Đệ nhứt Cộng hoà, cũng là chổ quen biết trong lúc tù đày và trong nghề dạy học tại Huế và tại Saigon, có cho tôi biết Ngài nhận chức Giám mục lấy khẩu hiệu « Vui mừng và Hy vọng » làm kim chỉ nam trong nghiệp vụ rao giảng Tin Mừng. Cũng từ đây, tôi cứ nhớ cái khẩu hiệu « Vui mừng và Hy vọng », mà đến nay mổi lần nghỉ lại tôi cảm thấy xấu hỗ với chính tôi, rồi tự bảo : « Mình dốt mà chưa biết mình dốt ».

Thật vậy, thoạt tiên khi tôi nghe mấy chữ « Vui mừng và Hy vọng », tôi nẩy ra trong trí một hoài nghi và thất vọng !. Vì tôi cho nó quá tầm thường chẳng có gì là cao xa và khó hiểu cả ! Tôi cứ nghỉ rằng há lẻ một vị có cấp bằng tiến sĩ từ những nước văn minh tân tiến trở về, chắc hẳn trong tương lai xứ sở phải có một trọng trách lớn, mà lại đi lấy một khẩu hiệu quá đơn sơ làm đề cương như vậy hay sao? « Vui mừng » thì sao mà tránh khỏi khi con người được thăng cấp cao hơn. Còn « Hy vọng » thì con người ai lại không hy vọng có ngày mình trúng được số độc đắc hoặc càng ngày mình càng được có nhiều phẩm hàm cao hơn để lưu truyền về sau cho con cháu. Sao ông tiến sĩ như Ngài lại không chọn một tiêu đề cao xa bóng bẫy như hầu hết những nhà « trí thức lớn » của nước ta từ Pháp hay từ Mỹ trở về thường « phô diễn » cho mọi người ngoài phố « nễ sợ » thêm trước văn bằng đại học ngoại quốc ?.

Cũng rất may là sau 1968, khi ra được nước ngoài, qua sự tiếp cận rộng rải với sách báo, tôi mới hiểu được phần nào về  khẩu hiệu « Vui mừng và Hy vọng » mà đức Giám mục Nguyễn văn Thuận đã dùng làm kim chỉ nam. 

Hôm nay nhân ngày húy giỗ của Ngài, tôi muốn nói ra những gì tôi không hiểu và cũng là lời thú tội trước anh linh cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận qua tiêu đề « Vui mừng và Hy vọng ».

2.Lời khẩn báo thánh thiện của Hồng y Nguyễn văn Thuận.

Tôi xin đọc lại lời Ngài đã viết cách đây 30 năm, lúc bị quản thúc tại giáo xứ Cây Vong: 

1.      Cha lại đi thêm một quảng đường

2.      Chông gai, mịt mù và vô định.

3.      Trên đường Cha gặp lắm lữ khách,

4.      Cha đã xem tất cả là bạn,

5.      Xem mọi biến cố là kinh nghiệm quý báu,

6.      Vì tất cả là hồng ân.

Thiết nghỉ mấy câu thơ trích dẫn « cũng chẳng gì là khó hiểu », bất cứ một độc giả nào. Đây chỉ là một đề cương trong mục vụ của một vị thừa tác chúa Jésus. Một chuyện rất bình thường đối với tất cả các nam nữ tu sĩ. Nhưng theo tôi, những lời thể hiện trong thời gian và không gian đặc biệt lao tù ở đây nói lên sự tiên tri trên con đường rao giảng của Ngài rất nhiều chông gai cản trở. Biết trước để tiên liệu những gì sẻ xẩy ra cho cá nhân Ngài, cho con chiên của Ngài để tìm cách đối phó. Phải chăng đây cũng là sự sắp đặt của Thiên chuá ? Cho nên Ngài rất vui mừng được rảo bước trên con đường dài mịt mù vô tận kia. Vì đó chỉ là những thử thách làm giàu kinh nghiệm cho hành động. Chính đó là Hồng Ân Thiên Chúa thực sự đã ban cho Ngài. Vì vậy, chúng ta cũng không lấy gì làm lạ trong những năm bị tù đày và hành hạ, Ngài vẫn « quyết sống và dốc lòng sống cách thánh thiện từng ngày và từng giờ » theo ý Chuá.

Ngày 12.3.2000 trong bài giảng đề tài “Hy vọng là thách đố lớn nhất của thế gíới ngày nay” nhân ngày « Tỉnh Tâm Mùa Chay Năm Thánh 2000 », cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã nói: “Ngày nay, hy vọng có lẻ là thách đố lớn nhất. Ngài đã nhắc lại lời nói của Charles Peguy: "Đức tin mà tôi thích nhất là hy vọng.” Rồi Ngài bàn rộng thêm : « Đúng vậy, bởi vì trong hy vọng, Đức tin được biểu lộ qua việc bác ái, mở ra con đường mới đi vào tận tâm hồn của con người. Đức tin đó hướng người ta đến việc xây dựng một thế giới mới, một nền văn minh tình thương và dẫn đưa cả thế giới đến tận hưởng cuộc sống thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây chính là cách thế mà Chúa Giêsu đã thực hiện và truyền đạt trong Tin Mừng. Và đây cũng là ơn gọi của chúng ta. Như trong thời kỳ Cựu Ước và Tân Ước, Thiên Chúa tiếp tục hành động nơi những con người có tinh thần nghèo khó, nơi những kẻ khiêm nhường, và ngay nơi cả những người tội lỗi biết thật lòng thống hối trở về với Thiên chúa ».

Vâng hy vọng là điều dễ mà khó nhất, bởi lẻ hy vọng phải đi với tác hành. Nếu không thì hy vọng đó chẳng khác nào như người muốn trúng số vé độc đắc nhưng không bao giờ dám mua giấy số. Người đó đả mang một hy vọng hảo huyền !. Cũng như Ngài đã nói, người thiên chuá giáo muốn phụng sự Đức tin thì trước hết tự mình « đi tiên phong » biểu lộ lòng bác aí với kẻ khác. Có  như  vậy Đức Tin mới sống động. Một thí dụ điển hình là trong đời tù đày của Ngài, có lần Ngài đã chia một con cá kho để anh công an mang về nhà. Một cử chỉ nhỏ nhoi khiêm tốn, nhưng đã làm anh công an kia biết thế nào là lòng bác ái cuà người thiên chuá giáo. Đức tin sẻ chết, nếu con người không dám hành động. Vì thế nên mọi hành động là « thách đố lớn nhứt » trong nhiệm vụ truyền giáo.

Phải chăng đây cũng là lời khẩn báo thánh thiện của một vị tiên tri cho chúng ta biết trước rằng chính sự thể hiện lòng « bác ái, tình yêu và đức khiêm nhường » trong mổi con người là con đường dẫn tha nhân « vào tận tâm hồn của mình » ? Là con Thiên chúa, Ngài khuyên mọi tín hữu không nên ngã lòng, trái lại phải luôn luôn kiên trì cùng nhau hiệp thông hy vọng và hành động.

3. Vui mừng và Hy vọng, triết lý sống của Hồng y Nguyễn văn Thuận.

Khi vừa ra khỏi nước, Ngài cho biết đã nhận được một lá thư của Mẹ Têrêxa ở Calcutta với những lời lẽ: “Điều đáng kể không phải là số lượng công tác được hoàn thành, nhưng là mức độ tình yêu mà ta để vào trong mỗi công tác.” Và Ngài nói : « Kinh nghiệm đó đã củng cố trong tôi ý niệm là phải sống mỗi ngày, mỗi phút giây của cuộc đời ta như là phút giây cuối cùng; hãy dẹp bỏ những gì là phụ thuộc; chỉ tập trung vào những gì là chính yếu. Mỗi chữ, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là những phút giây đẹp nhất đời ta. Chúng ta phải thương yêu mọi người, chúng ta phải tươi cười với mọi người mà đừng đánh mất một giây phút nào ».

Đến đây, chúng ta thấy rỏ Ngài đã chủ trương một triết lý sống rất khác thường. Ngài dẫn chứng « mức độ tình yêu » trong mọi công tác của Mẹ Terêxa, có nghĩa là Ngài luôn luôn xem chông gai là Hồng ân Thiên chuá. Vấn đề tù tội, đối với Ngài, chỉ là kinh nghiệm qúy báu để tạo nên những « giây phút đẹp nhứt » trong đời.

Xét về phương diện nhân sinh quan, cụm từ « Vui mừng và Hy vọng » bao hàm hai trạng thái rỏ rệt của con người do Thiên Chúa tạo ra. Một đứa hài nhi vui mừng khi thấy vú mẹ, hoặc một đứa trẻ con vui mừng khi nhận được cục kẹo, đó là những cái mừng diễn tả một trạng thái ham muốn của bản năng. Một gia đình Louisiane nào đó năm nào vừa thoát nạn cơn lốc Katrina cùng ôm nhau vui mừng vì được thoát chết, đó là sự vui mừng diễn tả tình cảm tự nhiên của con ngưòi, nghỉa là không thoát được cái bãn ngã. Những vui mừng nầy khác hẳn với những Vui mừng mà đức Giám mục Nha trang muốn nói. Bởi lẻ những Vui mừng kia không phải là những Vui mừng về Đức Tin, về sự sống vĩnh cửu của tâm linh, của những con người như Ngài khi vừa được phong chức Giám mục. Sự Vui mừng của Ngài có tánh cách thiêng liêng, đúng như lời của Frère Roger, bề trên cộng đồng Taizé (Lyon) khi nhắc đến Giám mục Nguyễn văn Thuận, đã nói với người viết trong đêm gặp gở lần đầu: « Con rất vui mừng vì con nhận ra rằng Thiên Chuá đã tận dụng con cả hồn lẫn xác ».

Còn Hy vọng cũng không phải là một đề tài suông, một nhóm chữ « khách sáo trống rỗng » mà là một ý nghĩa nói lên đặc tính tự do chọn lựa của con người. Đây cũng là một đặc tính nguyên ủy về sự thách đố của Thiên Chúa khi tạo nên con người: « trước nguy nan gần kề, thử con người có nên từ chối hay chấp nhận lời Mặc khải rao truyền » Theo tôi, hình như Hy vọng còn phổ biến và quá dể dàng hơn Đức Tin. Cho nên là con người thì ai cũng Hy vọng được. Hy Vọng là những thao thức giải tỏa mọi bức xúc của chính mình trước sức sống xã hội. Chẳng hạn sự Hy Vọng, gần đây nhứt, là lời hiệu triệu của cố Giáo hoàng Jean Paul đệ nhị. Ngài đã từng Hy Vọng một thế giới khác với thế giới cộng sản và tư bản, bởi lẻ cả hai thế giới nầy thiếu hẳn tình thương, thiếu hẳn sự bình đẳng giửa con Người.

 

Hy Vọng cũng không hẳn là mục đích như trong tuyên ngôn của các đoàn thể chính trị đảng phái, mà là một điều ắt cần cho sự sống (un besoin vital). Khi bảo rằng Hy Vọng còn dể dàng hơn là Đức Tin và như thế thì khi nói Hy Vọng rằng đừng tin cậy vào ai (cũng như đừng tin vào nội dung bài nầy) tức là người kia hoàn toàn Nghi Ngờ. Xin thưa thực chất sự Nghi Ngờ tức là bắt đầu có Hy Vọng. Trí óc con người bắt đầu nghỉ rằng « việc đó sẻ có thể xẩy ra », không chóng thì chầy.

 

Đi xa hơn nữa, phải chăng Nhà thờ Thiên chúa giáo là một chướng ngại như một số người Việt đã nêu trên sách báo ? Xin hảy hy vọng rằng « ý nghỉ đó là sai trái ».Thực ra, trong cộng đồng Việt nam chúng ta chỉ có một số ít người vì vướng mắc tự ty mặc cảm, nên từ ngày công dân Ngô đình Diệm về cầm quyền trong nước mới đẻ ra luận điệu nầy!. Tôi xin những người nấy hiểu cho rằng Nhà thờ Thiên chuá giáo là dấu chỉ Hy vọng của Tình yêu, của Tự do chọn lựa. Cũng như nhà chùa Phật giáo là nơi thể hiện tấm gương Bi, Trí, Dũng của đức Như Lai. Hoặc như mọi người Việt hôm nay khi nhìn vào sự thăng tiến của nhân loại đều « hy vọng » một nước Việt nam thanh bình, tự do, bình đẳng và thịnh vượng.

Trong « Le sens biblique de la laïcité » (les Éditions du Cerf 1989), Giuseppe Barbaglio, một nhà thần học, khi bàn về Đức Tin đả viết: « Nhà thờ (Thiên chuá giáo) không chuyển vận trong một thế giới cách biệt hoặc trong một vũ cầu cao hơn. Nhà thờ (Thiên chuá giáo) sống trên trái đất nầy. Mọi tín hữu thiên chúa giáo đều chung cật với tha nhân...Cùng nhau đồng hành trên con đường khó khăn (đầy chông gai) quyết tiến tới vinh quang và hạnh phúc. ...Con người thiên chuá giáo trao mình (xác lẫn hồn) cho Thiên chuá và cho sự năng động (sắp đặt) của Chuá ở chốn Thiên đàng. Nhưng trong thực tế, đời sống là một mô cơ phức tạp gồm cả « chọn lựa và quyết định », trong đó con người (cố) thể hiện Đức Tin của mình, (hầu) làm chứng cho hy vọng và biến tiềm năng thành hiện thực sức năng động tình yêu. » (L'Église n'est pas transportée dans un monde à part ou dans une sphère supérieure. Elle vit sur cette terre. Les croyants sont au coude à coude avec les autres hommes. [...] Ils marchent sur un chemin difficile, vers la gloire et le bonheur. [...] L'homme chrétien s'en remet totalement à Dieu et à la dynamique de son Royaume. Mais concrètement, sa vie est un tissu complexe de choix et de décisions dans lesquels il incarne sa foi, témoigne de son espérance et actualise le dynamisme de son amour). Quả thật cái lối diễn giải nầy rất hợp với bản tính « vui mừng và hy vọng » của con người bằng da bằng thịt muôn thuở vậy.

Hy vọng làm mào đầu cho mọi sự giải phóng con người, kể cả sự giải phóng chính trị hay tôn giáo. Trong trường hợp đó, không có một thế lực nào giử mải được con người trong một vũ cầu riêng biệt. Những biến chuyển chính trị và tôn giáo xưa nay trên khắp hoàn vũ đã làm chứng điều đó. Trước viễn cảnh nầy, chúng ta người Thiên chuá giáo, đừng sợ ý nghĩ « hoà đồng » với những tôn giáo khác, hoặc với những tổ chức chính trị của xã hội trong biểu kiếng lịch sữ, nghĩa là người Thiên chuá giáo « yêu cái Hoà chứ không phải cái Đồng ». Hoà nhưng vẫn giử sắc thái người con Thiên chuá. Xưa nay, từ tu sĩ đến tín hữu thiên chuá giáo chúng ta đều « Vui mừng và Hy vọng » trong lời rao giảng lòng bác ái, bởi lẻ, như Thiên chuá đã an bài, trước hết con người phải chấp nhận sự liên đới hiện hữu với đồng loại. Chính nhờ có sự Hy vọng mà hôm nay, trong buổi kỷ niệm ngày húy nhật cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận, trên khắp thế giới, đã tập họp giửa chúng ta những người bạn khác tôn giáo trong tinh thần tương kính. Theo tôi, những nhà lãnh đạo Việt nam, từ tôn giáo đến chính trị, nên lấy đề cương « vui mừng và hy vọng » để hành tác trong sứ nghiệp của mình.

 

5. Lời nhắn gửi hay là lời cảnh tỉnh sau cùng của Hồng Y Nguyễn văn Thuận ?.

 

Năm 1997, tại Sydney, tôi cùng frère Nhơn (nguyên hiệu trường trường mù Lasan Saigon trước 1975) đến thăm bà Cụ Cố vừa bình phục sau cơn bạo bệnh, tình cờ gặp Ngài cũng từ Rome mới qua Úc để thăm Cụ Cố, thân mẫu của Ngài. Trong lần nầy, tôi có dịp được thưa chuyện với Ngài nhiều hơn. Tôi có nhắc lại những việc làm của các nhóm Nhân quyền Pháp-Bỉ-Đức, nhóm Nghiệp đoàn Anh quốc và nhóm Cầu nguyện cho Ngài trong phong trào Taizé, suốt thời gian Ngài đang bị cầm tù trong nước. Ngài tỏ ra dấu hiệu cảm động, nhưng nhứt thiết không một lời oán trách những gì đã đi qua trong đời Ngài. Trước khi từ giả, Ngài có biếu tôi một tràng chuổi và một tượng nhỏ. Nhưng tự nhiên Ngài cầm chặt tay tôi và nói : « Xin mọi người hảy nghĩ lại những lời tuyên truyền về vấn đề tự do tôn giáo tại Việt nam hôm nay. Các Đức Cha tại Việt nam bấy lâu muốn thành lập một đoànThanh niên Công giáo để phụng sự Giáo hội hữu hiệu hơn, nhưng không bao giờ được chính phủ chấp nhận. Trong khi đó, chính quyền cho thành lập chỉ có đoàn Thanh niên Hồ chí Minh và chỉ có đoàn nầy được hoạt động và được chính quyền Việt nam tài trợ. Như thế tại Việt nam vấn đề tôn giáo có thực sự tự do như bà con tín hữu nên tin tưởng hay không ? »

  1. Năm 1970, trong thư luân lưu “Sứ mạng Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta”, Ngài đã nới với đoàn chiên của Ngài và nhấn mạnh rằng « Cộng Đồng Vatican II của Giáo Hoàng 23 là cánh cửa mở rộng trên thế giới” để nhìn xem, để đón tiếp, để yêu thương. Ngài xác quyết:

-         Chỉ là người Công giáo thật, những ai biết mở rộng lòng cho mọi người

-         Chỉ là người Công giáo thật, những ai để cho lòng yêu thương của Chúa vang dội trong quả tim mình.

-         Chỉ là người Công giáo thật, những ai khoan dung với mọi người vì nhớ lại lòng lân mẫn Chúa đối với mình.

-         Chỉ là người Công giáo thật, những ai nhìn thấy mọi người là anh em mình, không kể giai cấp, màu da, tôn giáo, chính kiến.

  1. Bởi lẻ Tinh thần Công giáo và Tinh thầnTruyền giáo là Một.

Phải chăng đó cũng là những lời trối trăn của cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận đã để lại hầu cảnh tỉnh chúng ta ?. Nếu đúng, thì chúng ta hảy hiệp lực cầu xin Thiên Chuá cho mọi người tín hữu công giáo, hôm nay cho đến mai sau, hảy « vui mừng và hy vọng ».

 

Lê Hùng Bruxelles.

 

 

 

Tiểu sữ Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê  NGUYỄN VĂN THUẬN (*)

Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17.4.1928 tại Phú Cam, thuộc Tổng Giáo phận Huế, tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam. Gia đình ngài có 8 anh chị em, 3 trai và 5 gái. Ngài là con cả. Thân phụ của ngài là Cụ Nguyễn Văn Ấm, qua đời ngày 1.7.1993 tại Sydney, Australia. Thân mẫu ngài là Cụ Bà Elisabeth Ngô Đình Thị Hiệp, con gái của Cụ Ngô Đình Khả và là em Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục và Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Bà cũng đã qua đời vào ngày 28.1.2005 tại Sydney, Australia, thọ 102 tuổi.

Năm 1939 ngài vào học Tiểu Chủng Viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị. Học xong tiểu chủng viện, năm 1947 ngài vào Đại Chủng Viện Phú Xuân ở Huế. Ngày 11.6.1953 ngài được Đức Giám Mục Urrutia phong chức Linh mục. Sau đó ngài được bổ nhiệm làm Cha Phó giáo xứ Tam Tòa, một giáo xứ lớn ở thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Giáo xứ Tam toà lúc này do Linh mục Nguyễn Văn Tâm làm chánh xứ. Đầu năm 1954 ngài bị bệnh phải về Huế chữa bệnh. Sau khi lành bệnh, ngài đi làm Cha Phó giáo xứ Phanxicô Xavie ở Huế. Giáo xứ này do Linh mục Darbon, quen gọi là Cố Triết, làm chánh xứ. Khi giáo xứ Phanxicô Xavie được trao cho giáo dân Việt Nam, ngài được cử làm quản xứ, kiêm Tuyên Úy lao xá Thừa Thiên, Tuyên Úy trường Pellerin, và Tuyên Úy Bệnh Viện Huế. Năm 1955 ngài lập Tráng Đoàn La Vang. 

Năm 1956, ngài được qua Roma theo học Phân khoa Giáo luật thuộc Đại học Giáo hoàng Urbaniana thuộc Bộ Truyền Giáo từ năm 1956 đến 1959. Ngài đậu tiến sĩ Giáo luật năm 1959 với luận án “Tuyên úy quân đội trên thế giới” với kết quả “maxima cum laude”. Ngài trở về làm giáo sư Tiểu Chủng Viện Phú Xuân, Huế. Năm 1962, khi Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện được thành lập để thay thế Tiểu Chủng Viện Phú Xuân, ngài được cử làm Giám Đốc chủng viện mới này  kiêm Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế.

Ngày 5.7.1957, Đức Giáo Hoàng Pio XII ban hành Sắc Chỉ Crescit Laetissimo thành lập giáo phận tông tòa Nha Trang gồm hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận thuộc giáo phận Quy Nhơn và hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy thuộc giáo phận Sài Gòn. Đức Giám Mục Marcel Piquet, thường được gọi là Đức Cha Lợi (1888-11/7/66).

Ngày 4.5.1967, Tòa Thánh giao giáo phận Nha Trang lại cho hàng giáo phẫm Việt Nam và bổ nhiệm đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận làm Giám Mục Việt Nam tiên khởi của giáo phận này. Lễ phong chức được tổ chức vào lúc 5 giờ chiều ngày 24.6.1967 tại Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện do Đức Khâm Sứ Tòa Thánh Angelo Palmas chủ phong, Đức Giám Mục Phạm Kim Điền và Đức Giám Mục J.B. Urrutia thụ phong. Chiều ngày 10.7.1967, ngài nhận chức Giám Mục Nha Trang do Đức Khâm Sứ Palmas chủ lễ. Ngài lấy khẩu hiệu “Gaudium et Spes” (Vui mừng và Hy Vọng).

Trong thời gian làm Giám Mục Nha Trang, ngài đã thực hiện những công việc sau đây:

1. Thành lập Hội Đồng Giáo Dân gồm 1200 vị được bầu từ cấp giáo xứ, giáo hạt và giáo phận với nhiệm kỳ 3 năm. Các thành viên đều được huấn luyện và tỉnh tậm hàng năm.

2. Củng cố các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành và hướng dẫn phát triển.

3. Thành lập “Trung Tâm Văn Hóa Chàm” tại Ninh Thuận năm 1968 và cho ấn hành sách Tin Mừng thánh Luca và thánh Marcô bằng tiếng Rơglai, và Tự Điển Chàm – Việt – Pháp.

4. Thành lập Viện Lâm Bích năm 1969 dành cho các ơn gọi muộn.

5. Thành lập Ban Công Lý và Hòa Bình ngày 1.1.1969.

6. Thành lập Phong Trào Cursilos và Phong Trào Focolare.

7. Thành lập Phong Trào Học Hội Kitô giáo.

8. Công bố “Quy Chế Giáo Dân”.

9. Phát hành tuần báo Dấn Thân.

10.  Trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngài đã giữa các chức vụ sau đây:

11.  Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình

12.  Chủ Tịch Ủy Ban Truyền Thông Xã Hội (1967 - 1975)

13.  Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển Việt Nam (1967 - 1975)

Đặc biệt, ngài đã dại diện Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đến Manila dự Hội Nghị Giám Mục Á Châu ngày 24.11.1970. Trong hội nghị này, ngài đã đại diện Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trình bày đề tài “Các vấn đề chính trị tại Á Châu và những giải pháp liên hệ.” để giúp các Giáo Hội Á Châu dự phóng con đường truyền giáo có thể triển khai trong nhiều thập niên.

Đối với Giáo Hội hoàn vũ, ngài được chọn làm Cố vấn Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo Dân từ năm 1971 đến 1975. Trong những lần đi họp Hội Đồng này, Ngài đã có dịp gặp Đức Tổng Giám Mục Karol Wojtyla (tức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sau này), lúc đó là Tổng Giám Mục Giáo phận Cracovia (Ba Lan), để học hỏi các kinh nghiệm mục vụ trong những giai đoạn khó khăn dưới chế độ cộng sản ở Ba Lan. Ngài cũng được bổ nhiệm làm cố vấn, rồi thành viên của Bộ Rao  Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc và thành viên của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích.

Tháng 4 năm 1975, khi đoán biết miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình đã 5 lần đề nghị Đức Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Henri Lemaitre, xin Tòa Thánh cử Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám Mục Saigon với hy vọng sự khôn ngoan của ngài có thể đưa Giáo Hội Việt Nam vượt qua những cơn khó khăn sắp đến. Cuối cùng, chiếu theo đế nghị của Đức Khâm Sứ, ngày 23.4.1975 Tòa Thánh đã phong ngài làm Tổng Giám Mục hiệu tòa thành Vadesitana rồi ngày 24.4.1975 bổ nhiệm ngài giữ chức Phó Tổng Giám Mục Giáo Phận Saigon với năng quyền kế vị. Đức Cha Nguyễn Văn Hòa được cử làm Giám Mục Nha Trang thay thế ngài. Lễ bàn giao được tổ chức tại Nha Trang ngày 7.5.1975. Ngày 8.5.1975 ngài về Sài Gòn nhận nhiệm sở mới. Không ngờ sự bổ nhiệm này đã đem đến cho ngài những hậu quả thương đau, nhưng cũng đưa ngài lên những địa vị quan trọng trong Giáo Hội về sau.

Ngày 27.6.1975, Ủy Ban Quân Quản thành phố Saigon - Gia Định công bố quyết định không cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được hoạt động tại nhiệm sở mới. Ngày 1.7.1975 Ủy Ban Quân Quản gởi cho ngài một văn thư yêu cầu phải trở lại nơi cư trú trước ngày 30.4.1975.

Ngày 15.8.1975, công an đến bắt ngài đưa ra Nha Trang, nhưng không phải đưa về Tòa Giám Mục Nha Trang mà đưa đến quản thúc tại giáo xứ Cây Vông thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ít lâu sau, ngài bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh, Nha Trang.

Ngày 29.11.1976, xe công an lại đến trại Phú Khánh đưa ngài vào trại Thủ Đức. Ngày 1.12.1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam, được đưa xuống tàu Trường Xuân đi ra Bắc. Tại miền Bắc, ngài đã bị biệt giam trong 9 năm ở nhiều trại khác nhau, và bị quản chế 3 năm. Trong năm tù thứ nhất (1976), ngài đã viết cuốn “Đường hy vọng”. Cuốn sách này được Ngài coi là di chúc tinh thần của ngài gửi tới mọi người công giáo Việt Nam trong và ngoài nước. Ngày 23.11.1988, ngài được trả tự do và chỉ định nơi cư trú là Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội. Ngày 27.3.1989 ngài bị trục xuất khỏi Việt Nam và qua Roma.

Ngày 21.11.1994, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình. Đây là lần đầu tiên một giáo sĩ Việt Nam được bổ nhiệm vào một chức vụ quan trọng tại Tòa Thánh Vatican. Năm 1998 ngài được bổ nhiệm làm Chủ Tịch của Hội Đồng này (ngang hàng Bộ Trưởng). Ngài tuyên bố:

Tôi mơ ước một Giáo Hội là chứng nhân của hy vọng và tình thương, bằng những hành động cụ thể, như khi chúng ta thấy Đức Giáo Hoàng tiếp nhận tất cả mọi người: Chính Thống, Anh giáo, Calvin, Luther... trong ơn thánh của Chúa Giêsu Kitô, tình thương của Chúa Cha và sự hiệp thông của Thánh Thần được sống trong kinh nguyện và trong sự khiêm tốn.”

Trong chức vụ được trao phó, ngài đã được mời đi giảng và thuyết trình ở nhiều nơi và cho nhiều giới khác nhau, như tại nhà thờ chính tòa Paris vào một Mùa Chay, hoặc nói chuyện tại các đại học công giáo trên thế giới, hoặc nói chuyện với giới trẻ như  tại Mễ Tây Cơ vào tháng 5 năm 1998 với hơn 50.000 bạn trẻ tham dự. Ngài cũng được mời đến thuyết giảng tại Hoa Kỳ nhiều lần và có dịp nói chuyện với nhiều cộng đoàn và đoàn thể của người Việt hải ngioại. Ngày 11.5.996, ngài được Đại học Dòng Tên ở New Orleans, Louisiana, Hoa Kỳ, trao tặng bằng tiến sĩ danh dự. Bộ Truyền Giáo cũng đã ủy thác cho ngài thi hành các cuộc thăm viếng và kiểm tra các chủng viện tại một số nước ở Phi Châu.

Ngài cũng đã nhận được những huy chương đề cao cuộc sống chứng tá về các hoạt động kiến tạo hòa bình của ngài: Ngày 9.6.1999, Chính Phủ Pháp đã trao tặng ngài huy chương “Commandeur de l'Ordre National du Mérite“. Ngày 12.12.2000, Hội “Cùng Nhau Xây Dựng Hòa Bình” đã trao tặng ngài huy chương hòa bình tại Tòa Thị chính Rôma. Tại Torino, ngày 20.10.2001 ngài lãnh giải hòa bình của tổ chức SERMIG (Hiệp Hội Truyền Giáo Của Giới Trẻ). Ngày 9.12.2001, Trung Tâm Nghiên Cứu G. Donati cũng đã trao tặng ngài giải thưởng hòa bình năm 2001.

Trong Tuần Tỉnh Tâm Mùa Chay của Giáo triều Rôma năm 2000, ngài được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cử thuyết giảng. Sau khi nghe những bài giảng của ngài trong đó có những chứng tá về những năm sống trong tù ngục, ngày 18.3.2000 Đức Giáo Hoàng đã viết cho ngài một văn thư nói lên những lời tâm tình sau đây: “Tôi đã ước mong rằng trong năm Đại toàn xá này, có một chỗ đặc biệt được dành cho chứng tá của những người đã chịu đau khổ vì đức tin, đã trả bằng máu sự gắn bó của họ đối với Chúa Kitô và Giáo hội, hoặc chịu đựng những năm thật dài cảnh tù ngục và thiếu thốn đủ loại.” (Chứng nhân hy vọng, tr. 8). Sau đó, ngài được Đức Thánh Cha tiếp riêng và tặng một chén lễ. Ngài đã nói với Đức Thánh Cha như sau: “Cách đây 24 năm, khi cử hành Thánh lễ với 3 giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, tôi không bao giờ tưởng tượng, ngày hôm nay Đức Thánh Cha tặng tôi một chén lễ mạ vàng. Thiên Chúa thật cao cả và Tình thương của Ngài cũng cao cả” (Chứng nhân hy vọng, tr. 12.13).

Ngày 21.2.2001, trong cuộc họp của Mật Viên Các Hồng Y, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã trao mũ Hồng Y cho ngài và đặt ngài làm Hồng Y Phó Tế, Hiệu Tòa Nhà Thờ Santa Maria della Scala (Đức Mẹ tại các bậc thang). Nhà thờ này do các Cha Dòng Đức Mẹ Núi Carmelo coi sóc, nằm tại vùng Trastevere, Rôma.

Ngài đã qua đời lúc 18 giờ ngày 16.9.2002 tại Rôma.

(*) phỏng theo tài liệu s của Lử Giang, Tam toà, Quảng bình.

 

Lê Hùng, Bruxelles


Liên lạc email: vanphong@nguoivietparis.com