Cộng đồng người Việt khắp nơi

 

Trần Bình Nam

Thư ngỏ gởi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

 

Ngày 12 tháng 10 năm 2006

 

Thư ngỏ

 

Kính gởi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

01 Hoàng Hoa Thám

Ba Đình – Hà Nội

Việt Nam

 

V/v:  Chính phủ Việt Nam không cấp chiếu khán nhập cảnh cho tôi.

 

Kính thưa ông thủ tướng,

 

            Tôi tên là Trần Văn Sơn, hiện ở tại San Diego, bang California, Hoa Kỳ, mang hộ chiếu Hoa Kỳ số 210986978. Ngày 2 tháng 8 năm 2006 tôi gởi đơn đến tòa đại sứ của Việt Nam để xin chiếu khán nhập cảnh Việt Nam. Tôi định vào dịp Tết sắp tới về thăm đất nước và anh chị tôi. Anh tôi ở Nha Trang năm nay 80 tuổi , chị tôi 77 tuổi ở Huế. Cả hai sức khỏe yếu kém chắc không còn sống bao lâu nữa.

            Ngày 11 tháng 8 năm 2006 tòa đại sứ phúc thư cho tôi biết Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh thuộc bộ Công An Việt Nam chưa phê chuẩn nên tòa đại sứ không cấp chiếu khán được. Tòa đại sứ chỉ dẫn tôi cho thân nhân ở Việt Nam biết liên lạc với Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh để được hướng dẫn cách thức xin chiếu khán. Nếu được chấp thuận thì gởi giấy chấp thuận đến tòa, tòa sẽ cấp chiếu khán sau. Mặc dù ngạc nhiên về thủ tục, vì theo thông lệ quốc tế việc cấp chiếu khán nhập cảnh thuộc quyền Bộ Ngoại Giao chứ không thuộc bộ Công an, tôi cũng liên lạc với anh tôi để nhờ anh tôi xin giấy tờ.

            Anh tôi đã đích thân đến Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh ở thành phố Sàigòn nộp đơn bảo lãnh xin nhập cảnh cho tôi. Ngày 18/9/2006 bằng Văn thư số 1189/P2 Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh trả lời anh tôi rằng căn cứ vào Điều 8 (điểm đ, khoản 1) Pháp Lệnh Nhập Cảnh ngày 28/4/2000 Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh chưa thể thuận cấp chiếu khán cho tôi. Điều 8, đ, 1 của Pháp Lệnh Xuất Nhập Cảnh ghi: “vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia, lý do đặc biệt khác theo quyết định của bộ trưởng Bộ Công an”. Có nghĩa chính quyền Việt Nam không cho phép tôi nhập cảnh Việt Nam để thăm thân nhân và đất nước vì cho rằng sự hiện diện của tôi tại Việt Nam có hại cho an ninh quốc gia.

            Thưa ông thủ tướng.

Tôi đã không làm gì có hại cho an ninh quốc gia. Tôi nghĩ rằng chính phủ Việt Nam không bằng lòng vì những nhận định của tôi về đất nước Việt Nam qua những bài bình luận hay những lần tôi trả lời phỏng vấn của các đài BBC, VOA. Tôi viết bình luận chính trị từ năm 1991 dưới bút hiệu Trần Bình Nam và các quan điểm của tôi đều công khai trên mạng ở địa chỉ www.tranbinhnam.com.

            Trước đây tôi đã về Việt Nam hai lần, lần thứ nhất vào năm 1999 và lần thứ nhì vào năm 2001, và tôi nghĩ rằng chính quyền Việt Nam vì muốn phát triển đất nước đã bắt đầu có chính sách cởi mở và sẵn sàng nghe những ý kiến khác biệt.

            Vào tháng Tư năm 1975 đang là dân biểu của quốc hội chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tôi có điều kiện bỏ nước ra đi khi quân đội miền Bắc đánh chiềm miền Nam, nhưng tôi quyết định cùng gia đình ở lại. Trong thâm tâm tôi nghĩ đảng Cộng sản Việt Nam sẽ áp dụng chính sách đoàn kết quốc gia, huy động sức mạnh của toàn dân để xây dựng đất nước sau một thời gian dài chiến tranh huynh đệ tương tàn. Tôi sẵn sàng đem sức mình đóng góp trong việc xây dựng đất nước.

            Tôi ghi nhận rằng chính sách của đảng Cộng sản Việt Nam sau khi chiếm miền Nam thống nhất đất nước nhẹ nhàng và nhân đạo hơn chính sách của các đảng Cộng sản Liên Xô, đảng Cộng sản Trung quốc, đảng Cộng sản Cam bốt, nhưng không phải là một chính sách hòa giải căng thẳng dân tộc mà vẫn là một chính sách trừng phạt và phân biệt đối xử, nên tôi đã bỏ nước ra đi vào năm 1979. Vợ con tôi, sau đó, phần vượt biên, phần đi theo diện bảo lãnh đã đoàn tụ với tôi tại Hoa Kỳ. Qua thời gian mọi người trong gia đình tôi đã trở thành công dân Hoa Kỳ. Và gia đình tôi làm tròn nhiệm vụ công dân: làm việc, đóng thuế, và gìn giữ pháp luật của Hoa Kỳ, với tinh thần biết ơn đất nước to lớn và bao dung này. Tôi không ước mong gì hơn Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ hợp tác với nhau và cùng với các quốc gia khác xây dựng hòa bình và thịnh vượng trên thế giới.     

Đối với Việt Nam, tôi, cũng như đa số người Việt Nam khác bỏ nước ra đi, tham gia các hoạt động chính trị trong ý hướng tái thiết lập một chế độ dân chủ tại Việt Nam.  Thời gian gần đây, một phần hệ thống Cộng sản trên thế giới thống trị bởi Liên xô sụp đổ, một phần tuổi đã xấp xỉ thất tuần tôi chấm dứt mọi hoạt động chính trị để chuyên viết bình luận.

            Ước muốn cuối đời của tôi là sống những ngày cuối cùng tại Việt Nam và chết chôn tại Việt Nam. Năm nay tôi định trở về Việt Nam để chuẩn bị nơi ăn chốn ở và chính phủ Việt Nam đã không cho phép tôi trở về.

Tôi biết rằng chính phủ Việt Nam không cho tôi về vì các quan điểm của tôi.

Trong chuyến thăm Việt Nam năm 2001 tôi đã lên tận biên giới Trung quốc để thăm Ải Nam Quan và mới biết rằng đảng Cộng sản Việt Nam đã để lọt vào tay Trung quốc, và tôi đã nói điều đó cho thế giới biết. Tôi không làm gì khác hơn là kêu gọi những người có tránh nhiệm theo gương người xưa bảo vệ bờ cõi mà mới nhất là những người chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến biên giới tháng 2 năm 1979.

Tôi đã kêu gọi đảng Cộng sản Việt Nam bãi bỏ điều 4 của bản Hiến pháp 1992 (quy định độc quyền của đảng Cộng sản), thiết lập một chế độ dân chủ đa nguyên để huy động sức mạnh toàn dân kiến quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam đã công nhận tham nhũng là một quốc nạn. Nhưng dù muốn bài trừ quý vị cũng không thể bài trừ tham nhũng vì quý vị tự bó tay bởi điều 4 HP. Điều 4 giao mọi quyền hành trong tay đảng Cộng sản Việt Nam: đảng nắm quyền hành pháp, nắm quốc hội và điều khiển tòa án. Qua đó đảng tước đoạt hai vũ khí quan trọng nhất để ngăn ngừa tham nhũng là tự do báo chí và tư pháp độc lập.

Để chuẩn bị Đại hội 10 của đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 2006, quý vị đã yêu cầu mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước đóng góp ý kiến, và nhiều người đã đóng góp. Phần tôi, tôi đã đề nghị đảng Cộng sản Việt Nam hãy nhân đại hội 10 lấy quyết định tu chính Hiến pháp, bỏ điều 4 HP, cho phép một số đảng chính trị đối lập đứng đắn cùng ra tranh cử với đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu đảng Cộng sản Việt Nam thắng đảng sẽ có sứ mệnh của nhân dân để lãnh đạo và cùng với các đảng phái chính trị khác gồm cả toàn dân cùng nhau xây dựng đất nước phú cường. Nhưng quý vị đều vất mọi ý kiến vào sọt rác và tiến hành đại hội như đảng Cộng sản Việt Nam đã tính toán từ đầu là dùng đại hội để trừ khữ những đảng viên có thiện chí và đưa vào bộ máy lãnh đạo những nhân vật chủ trương duy trì sự độc tôn chính trị của đảng. Nhân dân Việt Nam lại thêm một lần bị phỉnh gạt. Và tôi đã viết và nói lên điều đó.

Đảng Cộng sản Việt Nam không muốn nghe những gì không êm tai, ra tay đàn áp mọi tiếng nói đối lập trong nước và bây giờ đóng cửa rút cầu không cho những ai ở hải ngoại từng lên tiếng đòi tự do dân chủ về thăm quê hương. Với một người cao niên 73 tuổi như tôi, cuối đời chỉ muốn về sống với quê hương của thời thơ ấu và chết được chôn bên cạnh mẹ cha mà quý vị còn sợ hãi như vậy thì làm sao quý vị có thể tin ở người trẻ tuổi.Với một chính sách hẹp hòi như vậy làm sao quý vị có thể hòa giải với nhân dân để cùng xây dựng đất nước?

Tôi trân trọng kêu gọi ông thủ tướng ra lệnh cho Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh rút lại quyết định thiếu tinh thần dân chủ của Cục. Cám ơn ông thủ tướng.

 

Kính thư

 

Trần Văn Sơn

Bút hiệu Trần Bình Nam

binhnam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

 

Bản sao:

Tòa đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ (đại sứ Nguyễn Tâm Chiến)

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ - Phòng Chính Trị (ông R. Nicolas Burns)

Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam (đại sứ Michael Marine)

Nhị vị Thượng nghị sĩ California (TNS Dianne Feinstein & Barbara Boxer)

Dân biểu quốc hội 52nd district (DB Duncan Hunter)

 

**************************************************

 

October 12, 2006

 

Open Letter

 

To Prime Minister Nguyen Tan Dung

Socialist Republic of Vietnam

01 Hoang Hoa Tham

Ba Dinh –Hanoi - Vietnam

Re: Vietnamese Government’s Refusal to Grant me Entry Visa

Mr. Prime Minister,

My name is Son Van Tran, naturalized US citizen holding a US passport # 210986978, currently residing at San Diego, California, USA. On 2 August 2006 I sent an application to the Vietnamese Embassy in Washington D.C. for an entry visa to Vietnam. I intended to return to the country and visit my siblings. My elder brother lives in Nha Trang and is 80 years old, and my elder sister, 77, lives in Hue. Both are of poor health and do not have many years ahead of them.

On 11 August 2006 the Embassy replied informing me that the Entry-Exit Management Directorate (the Directorate) of the Vietnamese Police Department was not yet in a position to approve, and for this reason the Embassy was unable to grant the visa requested. The Embassy advised me to inform my relatives in Vietnam to contact the Directorate and seek guidance on visa applications. If there results an approval, it will be forwarded to the Embassy and the visa will be granted subsequently. Despite my surprise -- for in accordance with international practice, the granting of entry visas is part of the Foreign Affairs Department’s jurisdiction, not that of the Police Department -- I still contacted my brother asking him to proceed with the paperwork.

My 80 years old brother took the pain to personally visit the Directorate in Saigon to lodge a sponsorship form for my entry visa application. On 18 September, through official document No. 1189/P2 the Directorate replied to my brother that pursuant to Clause 8(d)(1) of the Decree on Entry Visas, dated 28 April 2000, it was not yet in a position to approve my request. As possible reasons for not granting visas, Clause 8(d)(1) reads in part : “For reasons of protection of national security, for other special reasons in accordance with the decision by the minister of police.” This led me to the conclusion that the Vietnamese Government refused to grant me entry to visit my relatives and my country because it considered my presence in Vietnam a threat to national security.

Mr. Prime Minister,

I am no threat to national security. I believe that the Vietnamese Government is not happy with my views on the present situation in Vietnam through my dissertations and commentaries, or my views expressed in interviews with broadcasters such as the BBC and the VOA. I have written since 1991 under the pen-name Tran Binh Nam and my views are published openly on my webpage www.tranbinhnam.com.

I returned to Vietnam twice in the past, in 1999 and 2001. I rejoiced at the Vietnamese Government’s liberal policies and readiness to listen to dissenting views in order to move our nation forward.

In April 1975, as a member of the House of Representatives of the Republic of Vietnam’s Congress, I was in a position to leave the country when Northern troops invaded the South. But I decided to stay. Deep inside, I had thought the Communist Party of Vietnam (CPV) would implement policies of national reconciliation, mobilizing the entire people’s strength to rebuild the nation after a long internecine war. I was ready to contribute my abilities to the nation-building task.

I concede that CPV’s policies in the aftermath of reunification were somewhat more lenient and humane than those of its counterparts in the Soviet Union, Communist China, and Communist Cambodia. Nonetheless, they were not national reconciliation policies but rather, punitive and discriminatory measures. Consequently I left the country in 1979. My wife and children, afterwards, either fled or were sponsored and were reunited with me in the USA. All members of my family are now US citizens. In the USA, my family has carried out all responsibilities of citizens, working hard, paying taxes and abiding by the laws, while remaining grateful to this great nation and its tradition of tolerance. I have no greater wish but to hope that Vietnam and the USA would cooperate and together with other nations, build peace and security for the world.

With regards to Vietnam, I was, like the majority of Vietnamesese living here, involved in political activities aiming at demanding the establishment of a democratic regime in Vietnam. In recent times however, partly because world communism under the control of the Soviet Union has collapsed, partly because I have reached my seventies, I ceased all political activities to focus on writing commentaries.

My desire toward the end of my life is to live my final days in Vietnam, and die and be buried there. This year, I intended to return to Vietnam to prepare for proper accommodation, and the Vietnamese Government refused me the permission to return.

I know the Vietnamese Government did so because of my political views.

During my 2001 trip to Vietnam, I went to the Chinese border to visit the Nam Quan Pass and realized that the CPV has ceded it to Communist China, and I informed the world of the fact. I simply called on those responsible for the conduct of State affairs to follow in the footsteps of our forefathers to protect our territorial integrity, and more recently, in the footsteps of soldiers who lost their lives in the border wars of February 1979.

I have called on the CPV to abolish Article 4 of the 1992 Constitution guarantying CPV monopoly over political power , establish a pluralist democracy to mobilize the people’s strength for nation-building. The CPV has repeatedly acknowledged corruption as a national calamity. But you and your colleagues are unable to stamp out corruption because your hands are tied by Article 4, which entrusts power to the CPV. The CPV controls the Government, the Congress and gives directions to the Courts. Through this it eliminates two most powerful weapons to fight corruption: freedom of the press and an independent judiciary.

To prepare for the 10th Congress of the CPV early this year, the CPV asked for suggestions from all sectors of the nation inside and outside Vietnam. Many submitted suggestions. On my part, I suggested that on the occasion of the 10th Congress, the CPV would decide to amend the Constitution, abolish Article 4, and allow a number of appropriate opposition political parties to stand for elections, together with the CPV. If the CPV won, it would have the popular mandate to lead, and together with other political parties, and the whole people, would build a modern and prosperous nation. But the CPV threw all suggestions into the rubbish bin and proceeded with the Congress as per your initial agenda which was to eliminate all well-meaning cadres, and promote to leadership roles those bent on maintaining political monopoly by the party. The people of Vietnam were once again duped. And I wrote, simply to voice the truth.

The CPV does not wish to listen to dissenting opinions. It suppresses opposing views inside Vietnam and now it wishes to burn all bridges back to Vietnam for those who have earlier spoken on freedom and democracy.

For a 73-years old whose only wish is to return to live in the land of his birth, and die and be buried alongside his parents, you and your colleagues still hold such fear. How, then,  can you trust the youth of our nation ? With such narrow-minded policies, how can you and your colleagues implement national reconciliation , which is a prerequisite to the task of nation-building ?

I earnestly call on you, Mr. Prime Minister, to instruct the Directorate to rescind its senseless, undemocratic decision, and I will be grateful for your action.

Yours sincerely,

Son Van Tran

Pen-name: Tran Binh Nam

binhnam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

 

Copies to:

Embassy of Vietnam to the United States (Ambassador Nguyen Tam Chien)

US Department of State – Political Affairs Bureau (Mr. R. Nicolas Burns)

US Embassy in Vietnam (Ambassador Michael Marine)

Senators of the State of California (Senators Dianne Feinstein & Barbara Boxer)

Local Congressman, 52nd Congressional district (Representative Duncan Hunter)