Cộng đồng người Việt khắp nơi

 

Ngô Quang Trưởng 
Anh Hùng Tử, Khí Hùng Bất Tử
Take2Tango 22/01/2007

Con đường binh nghiệp

Ngày hôm nay, 22/01/2007, những người Việt miền Nam trưởng thành trong cuộc chiến vừa qua có một tin buồn, tin thật là buồn. 

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã từ trần, lúc 03 giờ 20 phút sáng, tại thành phố Falls Church , Virginia . 

Tướng Trưởng sinh ngày 13/12/1929, hưởng thọ 78 tuổi.

Cái chết của Trung tướng Ngô Quang Trưởng là một nổi buồn lớn của toàn thể cựu quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa vì ông là niềm hãnh diện của họ. Nhưng tập thể cựu quân nhân Cộng Hòa  không quá bất ngờ bởi vì từ vài năm qua anh em thường nhận được tin bệnh ông không thuyên giảm.   

Tin trên website Take2tango của Ký giả Thế Phương viết “Được biết trong tuần cuối cùng Trung Tướng Trưởng có vào bệnh viện vì yếu sức nhưng rồi lại về nhà, khá vui vẻ, bình thường.  

Chiều ngày 21/01/2007, Trung Tướng Trưởng được nhập bệnh viện vì yếu sức. Tại đây ông được cho thở dưỡng khí và rồi nằm ngũ từ 5 giờ chiều sau khi tiem thuốc giảm đau, tới 2 giờ 20 sáng thì đi trong bình yên”. 

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là vị tướng tên đứng đầu danh sách các vị tướng sạch của Việt Nam Cộng Hòa, và ông cũng là một vị tướng tài của quân lực. Không may, quân lực ấy bị đồng minh ám sát. Một số tướng lãnh tự sát, Trung Tướng Trưởng thoát ra ngoại quốc, 31 năm dài im lặng với nổi niềm uất hận, một chuổi thở dài thật đáng sợ cho một đời danh tướng. Ở xứ người, ông vẫn là niềm hãnh diện của quân lực, tên tuổi ông được tiếp tục kính trọng bởi người Việt tỵ nạn Cộng Sản và dân chúng trong nước. 

Không phải chỉ người Việt Nam thán phục và kính trọng Tướng Ngô Quang Trưởng. Đại tướng Schwarzkopt, Tư lệnh quân đội Hoa Kỳ đánh Iraq năm 1990, đã từng là Thiếu tá Cố vấn trong lúc Tướng Trưởng đang là một Đại tá Nhảy Dù. Viết về đời lính của mình trong cuộc chiến Việt Nam Tướng Schwarzkopt nhắc đến Tướng Trưởng đầu tiên. Trong cuốn It Doesn’t Take A Hero, ông Đại Tướng Hoa Kỳ kể liên tiếp trong 4 trang sách với phóng đồ hành quân, về tài đoán trước đường đi nước bước của địch, cũng như cách bố trí quân ta ra sao và sẽ đụng địch lúc nào. Cứ như thể ông Trung Tướng Việt Nam (lúc đó là Đại Tá) “thấy” được tận mắt tất cả. Ông Đại Tá Nhảy Dù Việt Nam nói cách bày binh bố trận cho ông Thiếu tá Cố vấn Hoa Kỳ nghe, và sẽ thắng như thế nào, thản nhiên phì phèo điếu thuốc lá trên miệng. Rồi các tiểu đoàn xuất trận. Đến 1 giờ trưa, ông Đại tá Việt Nam ngồi giữa rừng ăn trưa với ông Thiếu tá Hoa Kỳ, nửa chừng ông Đại tá Việt Nam bỏ chén cơm xuống, vói lấy ống nói máy truyền tin, ông Thiếu tá Hoa Kỳ hỏi “Sếp làm gì vậy”, để được trả lời : quân mình đang thắng rồi, những tên địch còn sống sẽ phải bỏ súng mà chạy.  

Sau đây là lời kể của Đại tướng Schwarzkopt, tôi tạm dịch như sau :

- Kìa, ông ta đâu có thấy một cái gì ! Tất cả diễn tiến đều xãy ra ở phía bên trong những khu rừng. Nhưng chúng tôi vẫn ở trong tình trạng thấy rõ như vậy đến cuối ngày, rồi đoàn quân của ông ta bắt đầu ôm về hàng bó súng của địch, chất đống trước mặt chúng tôi. Một trận chiến thật chắc chắn phần thắng. Nhưng Đại tá Trưởng thì vẫn ngồi yên lặng, ông ta vẫn đang … phì phèo điếu thuốc lá. Đại tướng Schwarzkopt “đóng đinh” nổi thán phục của mình bằng một câu ngắn ngủi :

- Tôi chưa từng được nghe những cái như vầy ở trường West Point . (Là một trường huấn luyện sĩ quan hạng nhất của Hoa Kỳ). 

Như vậy, vinh danh cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng thì không tới phiên tôi. Một cựu sĩ quan “nhi đồng cứu quốc”. Lần đầu tiên tôi được gặp Trung tướng Ngô Quang Trưởng là lúc ông làm Tư lệnh Quân đoàn IV cùng Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Sư đoàn 9, bay đến thăm Liên đoàn 42 Chiến thuật Biệt Động Quân do Đại tá Nguyễn Văn Hòa chỉ huy, vừa thành lập bởi 4 trại Lực Lượng Đặc Biệt cải tuyển dọc kinh Vĩnh Tế từ Thất Sơn chạy dài tới Hà Tiên. Đó là một buổi chiều Chủ nhật cuối năm 1970, không còn sĩ quan nào ở Liên đoàn ngoài một Thiếu úy sửa. Ráng nén run, tôi thuyết trình một lèo từ ban 1 tới ban 5, tình hình ta - địch trong khu vực trách nhiệm của Liên đoàn. Có lẽ nhờ cuộc thuyết trình “rùng rợn” này, về sau thằng Thiếu úy sửa lọt vào mắt Chuẩn tướng Pham Duy Tất.  

Kể một chuyện nhỏ nhặt của 36 năm trước chỉ nhằm mục đích như lời cám ơn của một cậu đàn em út cám ơn một đại niên trưởng đáng kính của quân đội chúng ta. Chắc chắn quý vị niên trưởng khác của tôi còn rất nhiều kỷ niệm về Trung Trưởng Ngô Quang Trưởng, và cũng đang bồi hồi nhớ đến ông.  

Nước mất, nhà tan, công không thành danh không toại Nhưng tên tuổi muôn đời chói sáng : Trung tướng Ngô Quang Trưởng / Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Chiến hữu tứ tán, đêm nay tôi là một trong những đàn em nhỏ nhất của quân lực chúng ta, xin hướng lòng mình đến sắp hàng trong hàng quân, kính tiển Trung Tướng mãn nhiệm đời. Ngô Quang Trưởng. Anh hùng tử, khí hùng bất tử ! 

ĐỖ SƠN 

Khóc Danh Tướng Nước Nam Ngô Quang Trưởng

Tin dữ lan nhanh Tướng mệnh chung

Trần gian thôi bỏ lại sau lưng

Một đời hổ tướng nhà Nam dũng

Trọn kiếp danh nhân nước Việt hùng

Vận nước suy vi đành thất quốc

Mệnh đời lận đận phải lưu vong

Muôn đời sĩ khí Ngô Quang Trưởng

Mãi với nước non đến tận cùng

Từ Đà Thành, 22/01/2007

hngy2k88@yahoo.com

 

* * * * *

Con đường binh nghiệp
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Quang_Tr%C6%B0%E1%BB%9Fng

Ngô Quang Trưởng sinh năm 1932 (1929 ?), tốt nghiệp Khóa 4 Liên trường Võ khoa Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1954, ra trường được bổ nhiệm đại đội trưởng đại đội 1, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.

·         Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng Bình Xuyên và được đặc cách thăng cấp trung úy tại mặt trận.

·         Năm 1963, ông thăng cấp đại úy.

·         Năm 1964, ông thăng cấp thiếu tá và được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù (TĐ5ND). Cùng năm 1964, TĐ5ND do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt Trận B1 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMNVN), tịch thu 160 súng đủ loại.

·         Năm 1965, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trinh, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn cứ của Công Trường 7 MTGPMNVN. Sau hai ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho hai Trung Đoàn Q762 và Q762 thuộc Công Trường 7, ông được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

·         Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù. Đến cuối năm 1965, bổ nhiệm Tham mưu trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù.

·         Năm 1966, sau biến cố bạo động miền Trung, ông được bổ nhiệm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (SĐ1BB), dưới quyền chỉ huy của tư lệnh Quân đoàn I, thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm.

·         Năm 1967, các đơn vị thuộc SĐ1BB do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M113, tăng phái Tiểu Đoàn 9 Nhảy dù do Thiếu tá Nguyễn Thế Nhã chỉ huy, tấn công và phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du kích địa phương thuộc mặt trận Lương Cổ-Đồng Xuyên-Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này ông thăng cấp chuẩn tướng.

·         Năm 1968, các đơn vị thuộc SĐ1BB do ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn I Nhảy Dù (gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9 Nhảy Dù) do Trung tá Lê Quang Lưởng chỉ huy đã phòng thủ thành công tại Huế trong 26 ngày ( 30/01 đến 24/02, 1968). Các đơn vị này đẩy bật các đơn vị xung kích của Quân Giải phóng miền Nam, gồm Đoàn 5 (các Tiểu Đoàn K4A, K4B, TĐ 12 đặc công nội thành, Thành Đoàn Huế) Đoàn 6 (các Tiểu Đoàn K41, K6, TĐ 13 đặc công nội thành Huế, các Đại đội đặc công 15,16,17,18, tăng cường một đại đội súng phòng không 37 mm, hai đại đội du kích quận Hương Trà, Phong Điền, hai đại đội biệt nội thành Huế), và hai Tiểu Đoàn 416,418 thuộc Đoàn Cù Chính Lan (Đoàn 9). Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đã giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế. Sau trận Mậu Thân ông được đặc cách thăng cấp thiếu tướng và được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Quân đoàn IV, Quân khu IV.

·         Năm 1970 ông được thăng cấp trung tướng.

·         Năm 1972 , Quân Việt Cộng  và Cộng Sản Bắc Việt  mở chiến dịch Trị-Thiên. Lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tại Quân khu I đã bị nhiều tổn thất. Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I thay thế tướng Hoàng Xuân Lãm. Quân khu I được tăng cường toàn bộ lượng tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được sự yểm trợ tầm xa bởi Hạm đội 7 Hoa Kỳ, đẩy lui và tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và tất cả các phần đất bị chiếm phía Nam sông Mỹ Chánh, gây nhiều thiệt hại cho các đơn vị Viet Cong và Cộng Sản Bắc Việt

·         Năm 1975 , Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Với chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I, ông được lệnh tử thủ Huế, nhưng sau ít lâu lại nhận lệnh di tản toàn bộ Quân đoàn I vào Đà Nẵng. Do thiếu chuẩn bị và sụp đổ tinh thần, cuộc di tản hoàn toàn thất bại, tổn thất toàn bộ lực lượng quân sự và cơ giới của Quân đoàn I trong thời gian rất ngắn, không vì giao tranh nhưng vì hỗn loạn và đào ngũ. Thiệt hại đáng kể nhất là việc quân đội Việt Nam Cộng Hòa mất hoàn toàn quyền kiểm soát vùng lãnh thổ có 3 triệu dân, và việc tan rã 4 sư đoàn quân chủ lực, trong đó có hai sư đoàn thuộc hàng thiện chiến nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa Sư đoàn 1 Bộ Binh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, đưa đến sụp đổ toàn bộ miền Nam một cách nhanh chóng bất ngờ. Ông vào Sài Gòn và khai bệnh, dưỡng bệnh tại Sài Gòn cho đến khi Sài Gòn thất thủ. Ông di tản cùng gia đình qua Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang Virginia.

Ông cũng là một trong số ít tướng lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa được đánh giá là thanh liêm trong sạch "Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng" .

Các tác phẩm quân sự

Bắt đầu năm 1979, theo lời mời của Trung tâm Quân sử Quân lực Hoa Kỳ (US Army Center of Military History), ông ghi lại kinh nghiệm chiến đấu qua 3 quyển sách hiện còn lưu trữ tại trung tâm kể trên.

·         "The Easter Offensive of 1972" (1983),

·         "Territorial Forces" (1984), và

·         "RVANF and US Operational Cooperational Coordination" (1984).

 

Nhận định về Ngô Quang Trưởng

Trong hồi ký của Đại Tướng H. Norman Schwarzkopf, nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung Đông và tư lệnh quân đội Đồng Minh trong chiến dịch Bão Sa Mạc 1991, tướng Schwarzkopf viết ".... General Truong is the most brilliant tactical commander I'd ever known ..."., tạm dịch "Trung Tướng Trưởng là người chỉ huy chiến thuật kiệt xuất nhất mà tôi từng được biết".

Với General Norman Schwarzkopf

Trung tá George W. Smith, nguyên cố vấn Sư đoàn 1 Bộ binh, trong bút ký "The Siege at Hue" viết : "General Truong was tough, disciplined, and dedicated to his military profession. Unlike many of his contemporaries who had climbed the ranks through political influence, nepotism, or cold, hard cash, he had earned his stars on the battlefield. He was viewed as a self-starter, without a hint of corruption or ego. He was regarded by the Americans as unquestionably the finest senior combat commander in the South Vietnamese army".; tạm dịch "Tướng Trưởng là một người cứng rắn, kỷ luật, và hết lòng với binh nghiệp. Không như một số đồng liêu của ông thăng quan tiến chức bằng quen biết hay lo lót, ông đeo sao trên vai bằng chiến công tại mặt trận. Ông là người cần mẫn, thanh liêm, và không tự cao tự đại. Người Mỹ cho rằng ai cũng phải nhìn nhận ông là người chỉ huy chiến đấu tài giỏi nhất của quân đội Nam Việt Nam".

Viết về cuộc lui quân của Quân đoàn I QLVNCH trong tháng 03 năm 1975, tiến sĩ Nguyễn Đức Phương, một cựu sĩ quan trong QLVNCH nhân định như sau : "... hệ thống chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân đoàn I đã không chu toàn trách nhiệm trong giai đoạn khó khăn nhất của một cuộc hành quân .."., và nhận định "tướng Trưởng là vị tư lệnh quân đoàn thiếu khả năng điều động một bộ tham mưu hỗn hợp ...".

Đại tá Phạm Huấn, nhà báo quân đội lão thành của QLVNCH viết "... Những người ngưỡng mộ và kính phục tướng Ngô Quang Trưởng đều nghĩ rằng sự thảm bại này cuộc lui binh của Quân Đoàn I là hậu quả của quyết đinh sai lầm trong chiến lược 'đầu bé đít to' của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng theo thời gian, những bí mật được tiết lộ. Tướng Trưởng cũng là người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất đối với những đau thương, kinh hoàng trong hai cuộc rút quân tồi tệ, thê thảm từ Huế và Đà Nẵng ...".

      Tham khảo

·         Chiến Dịch Trị Thiên năm 1972, Đại tá Vũ Trọng Hoan, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, báo Nhân Dân, Hà Nội, 12/2004

·         Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, Tiến Sĩ Nguyễn Đức Phương, nxb Làng Văn, Canada, 2001

·         Đề Cương Tuyên Truyền Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Thành Lập QĐND Việt Nam, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương Đảng CSVN, Hà Nội, 2005

·         Decent Interval, Frank Snepp, Penguin Books, New York, 1980

·         Mùa Hè Đỏ Lửa, Phan Nhật Nam, nxb Sáng Tạo, Sàigòn, 1972

·         Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương, Phan Nhật Nam, nxb Nắng Mới Miền Nam, California, 2003

·         Những uất hận trong trận chiến mất nước 1975, Đại tá Phạm Huấn, tác giả tự xuất bản, San Jose, 1988

·         55 ngày & 55 đêm : Cuộc sụp đổ của VNCH, Chính Đạo, Houston : Văn hóa, 1999

·         It Doesn't Take a Hero, General H. Norman Schwarzkopf, Bantam Books, New York, 1993

·         The Easter Offensive of 1972, Lt. General Ngo Quang Truong, U.S. Army Center of Military History, Washington, D.C. - Indochina Monograph Series, 1979

·         The Siege at Hue, George W. Smith, Lynne Rienenr Publishing, London, 1999.